Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Hay - Sưu Tầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Truyện Hay - Sưu Tầm. Hiển thị tất cả bài đăng
Sử Tích Hoa Dã Quỳ

Ngày xửa ngày xưa, nơi buôn sóc nọ có chàng K'lang của núi rừng yêu tha thiết nàng H'limh của con suối.Ngày ngày chàng K'lang vào rừng săn bắt thú rừng còn nàng khéo léo dệt tấm chăn kiệu chồng (vì theo tục lệ của bộ tộc nàng con gái trước khi lấy chồng phải dệt một tấm chăn thật đẹp để mang về nhà chồng). Rồi tối tối họ lại quây quần đốt lửa và múa hát cùng dân làng trong buôn. Cuộc sống vui vẻ hạnh phúc của họ cứ trôi đi.
Đến một ngày kia khi H'limh chờ hoài đến tối mà vẫn không thấy K'lang đi săn về, nàng lo lắng từ buôn sóc nàng đi tìm K'lang, nàng cứ đi, đi mãi đi hết mười mấy con suối, mười mấy ngọn núi rồi mà không thấy người yêu của mình đâu cả. Mệt quá nàng ngủ thiếp đi trong giấc mơ nàng thấy K'lang gọi nàng và bảo nàng hãy đi thêm một con suối nữa sẽ gặp chàng ở đó. Nàng giật mình rồi đi tiếp đến cuối nguồn nàng nhìn thấy K'lang đang bị những tên hung ác của bộ tộc Lasiêng trói chặt. Nàng chạy lại ôm lấy chàng mặc cho những mũi tên, những ngọn giáo đâm vào da thịt. Mặc cho bao nhiêu đau đớn nàng vẫn quyết bảo vệ cho người yêu cho tới khi nàng bị trúng mũi tên độc cuối cùng của chàng La rihn con trai tộc trưởng Lasiêng. Vì quá hờn ghen với tình yêu của H'limh dành cho k'lang chàng đã buông lơi mũi tên hận tình. Chàng cũng không ngờ người lãnh trọn mũi tên ngiệt ngã ấy lại là H'limh - người con gái mà chàng ngày đêm thương thầm trộm nhớ mà không được đáp lại tình cảm.
Từ đó cứ mỗi độ tháng mười nơi nàng H'limh chết lại nở ra một loài hoa có màu vàng rực. Người ta thường gọi là hoa Dã Quỳ. Cây hoa Dã quỳ rất dễ mọc và mọc rất nhanh những cánh hoa màu vàng tràn đấy sức sống mãnh liệt như tình yêu chung thủy.
Đến một ngày kia khi H'limh chờ hoài đến tối mà vẫn không thấy K'lang đi săn về, nàng lo lắng từ buôn sóc nàng đi tìm K'lang, nàng cứ đi, đi mãi đi hết mười mấy con suối, mười mấy ngọn núi rồi mà không thấy người yêu của mình đâu cả. Mệt quá nàng ngủ thiếp đi trong giấc mơ nàng thấy K'lang gọi nàng và bảo nàng hãy đi thêm một con suối nữa sẽ gặp chàng ở đó. Nàng giật mình rồi đi tiếp đến cuối nguồn nàng nhìn thấy K'lang đang bị những tên hung ác của bộ tộc Lasiêng trói chặt. Nàng chạy lại ôm lấy chàng mặc cho những mũi tên, những ngọn giáo đâm vào da thịt. Mặc cho bao nhiêu đau đớn nàng vẫn quyết bảo vệ cho người yêu cho tới khi nàng bị trúng mũi tên độc cuối cùng của chàng La rihn con trai tộc trưởng Lasiêng. Vì quá hờn ghen với tình yêu của H'limh dành cho k'lang chàng đã buông lơi mũi tên hận tình. Chàng cũng không ngờ người lãnh trọn mũi tên ngiệt ngã ấy lại là H'limh - người con gái mà chàng ngày đêm thương thầm trộm nhớ mà không được đáp lại tình cảm.
Từ đó cứ mỗi độ tháng mười nơi nàng H'limh chết lại nở ra một loài hoa có màu vàng rực. Người ta thường gọi là hoa Dã Quỳ. Cây hoa Dã quỳ rất dễ mọc và mọc rất nhanh những cánh hoa màu vàng tràn đấy sức sống mãnh liệt như tình yêu chung thủy.
Thứ Bảy, tháng 5 30, 2009 | Nhãn: Truyện Hay - Sưu Tầm | 0 Comments
HƯƠNG DÃ QUỲ

Lần đầu tôi lên cao nguyên. Cái cảm giác lâng lâng khó tả cứ đan trong tôi. Người ta bảo ở Đà Lạt một ngày có tới bốn mùa, sáng xuân, trưa hạ, chiều thu và tối là mùa đông, quả đúng không sai.
Tôi lững thững đi. Hai bên đường mọc đầy cây Dã Quỳ. Mùa này hoa Dã Quỳ đang mùa nở rộ. Cái màu vàng tươi của hoa cùng với mùi hôi hôi hăng hắc từ thân cây tỏa ra làm tôi nhớ về Cô Sầu. Cô Sầu, cái phố huyện nhỏ tẹo ở vùng giáp biên phía bắc, nơi tôi sinh ra và lớn lên cũng tràn ngập cây dã quỳ như ở đây. Ngày ấy lũ học sinh chúng tôi thường lấy cây Dã Quỳ về ủ làm phân xanh để trồng cây trong vườn trường. Cái mùi hôi hôi hăng hắc thường làm cho tụi con gái sợ chết khiếp, cứ phải lấy khăn bịt kín mũi, kín mồm. Ấy vậy mà Lìn – cô bé xinh nhất lớp tôi lại tấm tác khen thơm. Lìn không sợ cái mùi khó chịu của cây Dã Quỳ. Em vẫn thường hái hoa về cắm lọ. Em cười bảo chúng tôi:
- Mỗi loại cây đều có tiếng nói riêng của nó. Cái mầu vàng này nhiều loài hoa khác cũng có. Nhưng chẳng có loài cây nào có được mùi hương thơm thế này. Đấy chính là tiếng nói riêng của hoa Dã Quỳ. Nếu mình đừng sợ thì sẽ thấy nó đáng yêu biết bao nhiêu… - Em hít hà cái mùi hôi hôi hăng hắc ấy, làm lũ chúng tôi bái phục.
Dân quê tôi có thói quen đập đá xếp thành hàng rào quanh nương rẫy. Những khối đá mẹ chềnh ềnh, đen bóng như những con trâu mộng, nằm rải rác trong nương cứ bị đập vỡ dần, vỡ dần. Những bức tường đá ngày một dài ra, cao lên. Cứ thế, hết đời này sang đời khác. Đến lứa chúng tôi thì nương rẫy chỉ còn toàn đất mầu. Đường cầy không còn vướng đá nữa. Cây ngô, cây sắn cứ thế mà mọc lên. Những cây Dã Quỳ cũng len lỏi sát bên hàng rào đá mà lớn lên thành bờ, thành bụi. Hạt hoa theo gió bay lên lưng núi đua nhau nẩy mầm trong kẽ đá, cây lại mọc lên xanh um. Mỗi khi mùa hoa về, những hàng rào đá và sườn núi lại vàng rực một mầu hoa. Có lẽ chẳng ở đâu có được những Phja Bjoóc (Núi hoa – tiếng Tày) như ở quê tôi. Chúng tôi vẫn tự hào bảo thế.
Cái tuổi thơ ngây qua đi. Niềm hãnh diện, tự hào về những Phja Bjoóc cũng vơi dần theo năm tháng. Chúng tôi lớn lên, mỗi đứa đi mỗi ngả. Cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam cuốn hút lũ con trai. Lũ con gái thì vào đại học, để lại mùa hoa Dã Quỳ và những núi hoa vàng rực cho lớp lớp đàn em. Ngày tiễn tôi lên đường, Lìn tặng tôi cuốn sổ tay. Em nhẹ nhàng hái một cánh hoa cho vào trang sổ ép lại rồi đưa cho tôi. Mắt em đầy ậng nước. Nhìn tôi, em nói:
- Anh đi nhớ chóng về. Đừng quên quê mình, đừng quên mùa hoa Dã Quỳ nở. – rồi em ù chạy. Vừa chạy em vừa lấy ống tay áo chàm lau nước mắt. Để lại tôi đứng lặng bên hàng cây Dã Quỳ vàng rực màu hoa.
*
* *
Giải phóng miền Nam, tôi trở về Cô Sầu. Bạn bè kẻ còn, người mất. Lìn đã tốt nghiệp đại học. Giờ em làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp Cô Sầu. Cái vóc dáng nhỏ bé ngày nào giờ không còn nữa. Em phổng phao và rắn rỏi. Tôi bàng hoàng, em vẫn đẹp và trẻ trung như ngày nào. Tôi sung sướng nhìn em. Em cười, đôi mắt huyền lúng liếng cuốn hút hồn tôi. Tôi chưa kịp đưa em cuốn sổ tay trong có cánh hoa Dã Quỳ em tặng tôi ngày ra đi và trong đó còn có cả những dòng nhật ký mà tôi viết về em, về mảnh đất Cô Sầu, về những mùa hoa Dã Quỳ xiết bao nỗi nhớ. Để minh chứng rằng tôi vẫn nhớ em, vẫn nhớ mùa hoa Dã Quỳ nở và đã trở về đúng như lời em dặn ngày tiễn tôi lên đường. Một bé gái chừng bốn tuổi chạy đến nhào vào lòng em. Tôi ngỡ ngàng. Em ngượng ngùng nhìn tôi, mắt rưng lệ. Em khẽ nói:
Con em đấy! Chào bác đi con!
Trong tôi bỗng trào lên nỗi xót xa và oán giận, nhưng vẫn cố kìm cho giọng nói thật bình thường:
Lìn lấy chồng khi nào?
Lìn nhìn tôi, mắt chớp chớp như muốn khóc. Chắc rằng em đoán được tâm trạng tôi lúc này. Bé gái ngước cặp mắt to tròn nhìn tôi vẻ lạ lẫm.
Hơn năm năm rồi!
Bố cháu đâu?
- Anh không biết thật à? Thèn đấy! Thèn hy sinh rồi…
Tôi choáng váng. Ngày tiễn tôi ra đi, em đã chả nói với tôi như một lời hẹn ước đó sao? Giờ tôi trở về với em, với mùa hoa Dã Quỳ nở. Vậy mà em lại nỡ quên. Em đi lấy chồng, mà lấy ai không lấy, lại đi lấy thằng “Thèn đểu” . Cả lớp tôi đứa nào cũng ghét nó, vì nó ranh ma, lừa lọc và hay tán gái. Tụi con gái sợ nó vì nó trơ trẽn và thô thiển. Lìn như đoán được suy nghĩ. Em đã kể cho tôi nghe tất cả.
Khi Lìn đang học đại học năm thứ ba. Thèn vẫn ở nhà, vờ ốm để khỏi phải đi bộ đội. Trốn mãi không được, Thèn cũng phải nhập ngũ. Trước khi lên đường, Thèn đã bắt pá mé ( bố mẹ – tiếng Tày ) sang nhà Lìn để hỏi Lìn về làm vợ Thèn. Nhận được thư ở nhà gửi đến, Lìn choáng váng liền viết thư về cho pá mé nói rằng mình không đồng ý lấy Thèn. Ở nhà bố Lìn vẫn cho làm đám cưới. Pá mé Thèn lo đủ mười gánh đồ cưới, gồm cả chăn, màn, quần áo, lợn, gà, tiền, gạo. Những cái hòm gỗ thông quét phẩm đỏ tươi đựng đầy đồ dẫn cưới, nặng trĩu vai những chàng trai, cô gái. Lìn không về, đám cưới vắng cô dâu. Thèn tức lắm, nó bắt bố mẹ làm cỗ cưới thật to, ăn đủ hai ngày, hai đêm. Họ hàng làng xóm kéo đến “ kin lẩu ” (uống rượu – tiếng Tày) đông vui như đi hội. Đám đàn ông say lướt khướt, mặt mũi đỏ gay, chân nam đá chân chiêu. Tiếng “sái mạ” (trò chơi đố bằng tay giữa hai người, thường diễn ra trong đám hội hay đám cưới ở vùng núi phía bắc) ầm ĩ trên những mâm cỗ cưới. Tiếng “lượn” (hát đối đáp giữa nam và nữ) của những tốp con trai, con gái vang lên suốt đêm.
Lìn về nghỉ hè được ba hôm thì thấy Thèn lù lù khoác ba lô về. Lìn khóc bảo bố mẹ trả lễ cưới cho nhà Thèn. Bố giận Lìn, chửi mắng ầm ĩ. Mẹ ngất lên ngất xuống mấy lần. Lìn thương mẹ, đành theo Thèn về nhà nhà làm vợ. Mẹ bảo:
- Con gái về nhà chồng phải mặc quần áo dân tộc mình, như thế mới sống được với nhà chồng. Ông bà, tổ tiên nhà chồng mới nhận. Bộ quần áo chàm đã lâu không mặc, giờ về làm dâu nhà Thèn, Lìn nghe mẹ lấy ra mặc. Lìn vừa mặc vừa khóc. Mẹ thương Lìn cũng khóc theo. Mẹ thấy Lìn thắt dải dây lưng như con gái chưa chồng, mẹ bảo:
- Con đã có chồng rồi, phải thắt lại dây lưng, không có người ta cười cho.
Thèn mãn nguyện vì chiếm được Lìn. Ba đêm làm vợ Thèn, Lìn chỉ khóc. Biết Lìn còn nguyên vẹn là con gái, Thèn bảo pá mé mổ lợn làm đám cưới lần nữa để mời họ hàng. Khi cỗ bàn vừa bầy ra thì có hai anh bộ đội ở cùng đơn vị về tìm Thèn. Thèn tái mặt, chạy vội vào buồng nằm đắp chăn kín đầu. Lìn hỏi mãi Thèn cũng không nói. Hai anh bộ đội tươi cười chào mọi người rồi nói là đơn vị cũng cho về phép như Thèn. Giờ hết phép, đến rủ Thèn về đơn vị. Các anh vui vẻ ăn cỗ cùng gia đình. Thèn đi rồi, Lìn ở nhà chồng hết hai tháng hè. Biết Lìn đã có con trong bụng, pá mé Thèn mừng lắm. Lìn trở lại trường học nốt năm cuối cùng. Bụng mang dạ chửa, đi thực tập ở hợp tác xã nông nghiệp, Lìn vẫn phải đi cầy, xếp đất đổ ải. Bảo vệ tốt nghiệp xong cũng là lúc Lìn sinh con. Lìn đặt tên con là Quỳ để kỉ niệm về loài hoa của một thời con gái.
Lìn trở về Cô Sầu. Đại hội xã viên bầu Lìn làm phó chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp phụ trách kỹ thuật. Bé Quỳ cứ thế lớn lên trong trình thương của mẹ và ông bà nội ngoại. Thèn vẫn đi biền biệt không về.
Khi bé Quỳ trong ba tuổi thì Lìn nhận được giấy báo tử Thèn. Tin dữ đến đúng vào mùa hoa Dã Quỳ nở vàng rực. Lìn lặng lẽ đến ngồi dưới hàng cây Dã Quỳ tức tưởi khóc...
Lìn khéo léo chối từ lời cầu hôn của tôi:
- Em còn chưa mãn tang mà anh! Hẹn anh sang năm, cũng vào mùa hoa Dã Quỳ nở...
Năm sau, đúng vào mùa Dã Quỳ đơm hoa. Tôi trở về Cô Sầu. Lìn đã mãn tang chồng. Chúng tôi ngồi bên nhau, dưới hàng Dã Quỳ ngày trước em đã tiễn tôi vào bộ đội. Trăng sáng như dát bạc. Những bông hoa vàng khẽ lay động, lấp lóa dưới ánh trăng. Em ngả đầu vào ngực tôi. Mùi hương lá sả em gội đầu còn vương trên tóc ngan ngát thơm. Biết bao kỷ niệm êm đềm của ngày xưa cứ hiện về trong tôi. Em ôm ghì lấy tôi, nức nở. Tôi để yên cho em khóc, nước mắt sẽ làm dịu đi nỗi đau trong em. Tôi hiểu trong lòng em lúc này ngổn ngang trăm mối. Em gọi tên tôi trong tiếng nức nở. Rồi em choàng tay kéo sát mặt tôi vào mặt em. Chúng tôi hôn nhau. Em mãnh liệt, si cuồng như bão tố. Tôi bị cuốn đi bởi dòng thác lũ nơi em. Em lần tìm bàn tay tôi, rồi kéo vào đặt nơi ngực mình. Bàn tay tôi chạm vào bầu ngực nồng ấm của em. Em thật thà nói:
Không còn được như xưa đâu! Con nó bú tóp hết rồi mà.
Ánh trăng lấp lóa soi rõ nửa thân thể trắng ngần của em. Tôi như ngây dại. Em thì thào trong tiếng thở gấp :
Em hư lắm phải không anh? Anh đừng khinh em, anh nhé. Lỗi tất cả là do em. Em đã không làm đúng như lời hẹn với anh. Em hiểu lòng anh lắm, song em không thể làm khác được. Em muốn đền bù cho anh tất cả, nhưng em có còn gì nữa đâu. Em không xứng với anh. Anh hãy quên em đi, coi như em đã...
- Không, anh vẫn yêu em mà! Anh chấp nhận tất cả. Anh sẽ coi bé Quỳ như con đẻ của anh. Lỗi đâu phải tại em!
Em lại gục mặt vào ngực tôi nức nở:
- Anh ơi! Anh đừng ... nói nữa!
Mặt trăng mờ dần trong mây. Không gian im lặng. Hàng Dã Quỳ cũng lặng yên... Tiếng giọt sương lăn tròn trên vòm lá. Tiếng giọt sương rơi nghe mơ hồ như từ một nơi nào xa thẳm...
Hôm sau em lẩn tránh tôi. Tìm gặp em bao lần mà không được. Mấy năm liền tôi về Cô Sầu để gặp em, nhưng em đều tìm cách tránh mặt tôi.
Thế rồi cũng đã gần ba chục năm qua đi, tôi không về Cô Sầu. Năm ngoái mới có dịp trở về. Chỉ nghe nói Lìn ở vậy thờ chồng, nuôi con. Lo làm ma cho bố mẹ hai nhà đâu vào đấy. Cháu Quỳ đã lấy chồng mãi tận miền Trung. Lìn vẫn ở một mình. Bỗng nhiên Lìn đi đâu đã hơn chục năm nay. Không ai biết tin gì về Lìn nữa. Có người bảo : “Lìn đi Nam tìm mộ Thèn” , có người lại nói “Lìn bỏ nhà đi theo gã buôn lậu gỗ ”. Nói em đi tìm mộ chồng thì còn nghe được, chứ bảo em đi theo trai thì tôi không tin. Em vốn là con người thủy chung, nhưng lại không dám phá vỡ cái khuôn phép đã được cha mẹ sắp đặt. Nếu em muốn “bước đi bước nữa thì” thì em đã làm vậy từ lâu rồi, chứ đâu phải đợi đến bây giờ... Nếu em muốn vậy thì ngày ấy em đâu nỡ chối từ lời cầu hôn của tôi. Tôi tin rằng em quyết ở vậy suốt đời. Điều ấy chỉ có tôi là hiểu được cho em mà thôi. Người dì ruột của em đưa cho tôi một gói ni lông được dán kín. Bà nói là của em gửi cho tôi từ cách đây gần hai chục năm. Có nghĩa là trước ngày em đi khỏi Cô Sầu. Bà đã kể cho tôi nghe tất cả những gì Lìn phải gánh chịu, sau cái lời cầu hôn của tôi với em ngày ấy. Không hiểu vì sao thiên hạ lại biết được chuyện giữa tôi và em. Thế là những lời đàm tiếu, đồn thổi bung lên ở cái phố huyện nhỏ bé vốn dĩ êm đềm và hiền lành. Một mình em phải gánh chịu những lời lẽ cay nghiệt. Rằng em đã mê hoặc, đã tấn công tôi. Em lừa tôi vào chòng, vào bẫy tình của em. Người ta bóng gió nhục mạ em bằng những lời cay độc vốn có từ ngàn đời “ Nạ dòng vớ được trai tơ, đêm nằm hý hửng như mơ được vàng ”. Có kẻ còn ác độc hơn đã nói thẳng vào mặt em: “những tưởng bà chủ nhiệm chỉ giỏi sản xuất nông nghiệp, ai ngờ bà còn giỏi cả việc giăng bẫy trai tân”. Em đau khổ trước những lời cay độc đó, không biết nói cùng ai, đêm về chỉ biết ôm con mà khóc. Tôi lặng lẽ đến bên hàng cây Dã Quỳ. Những điều bí mật giữa em và tôi từ cái ngày xa xưa ấy đều có sự chứng kiến của hàng cây Dã Quỳ này. Nay tôi muốn những điều em gửi lại cũng được hàng cây này chia xẻ. Em gửi lại cuốn sổ tay mà tôi đưa em đọc. Em ghi cho tôi chỉ vẻn vẹn có mấy dòng. Những dòng chữ bị nhòa đi vì nước mắt: “Anh! Em đã đọc đến thuộc lòng những gì em viết trong cuốn sổ này. Em càng hiểu và thương anh nhiều. Thương anh lắm anh ơi! Thương anh mà không biết làm sao được. Càng thương anh, em càng thấy giận em hơn. Thôi, số kiếp nó như vậy phải không anh? Dù sao thì em cũng toại nguyện rồi, vì đã một lần trong đời được làm vợ anh. Anh hãy tha lỗi cho em anh nhé! Ngày mai em đã đi xa rồi. Vĩnh biệt anh! Vĩnh biệt những mùa hoa Dã Quỳ quê mình...”.
*
* *
Cơn mưa bất chợt đổ xuống. Mưa đan dày ngang dọc. Hàng thông nghiêng ngả trong gió, mờ ảo trong mưa. Tôi cứ thế bước. Hai bờ Dã Quỳ rạp xuống. Mưa ào ạt rơi trên lá, trên hoa. Tôi sững người lại khi thấy một chiếc xe máy tiến đến ngay trước mặt. Tiếng người thanh niên ngồi trên xe nói át cả tiếng mưa:
- Mời chú lên xe! Con đưa chú về kẻo ướt hết.
Trong màn mưa, tôi thấy ánh mắt anh đầy vẻ thân thiện và hiền lành. Thực ra tôi đã bị ướt hết từ khi nãy rồi. Chẳng hiểu sao tôi lại ngoan ngoãn ngồi lên phía sau xe.
- Chú về đâu? Con đưa chú về.
- Tôi về số hai Yên Thế!
- Dạ !
Hai chúng tôi về đến nơi thì mưa cũng mưa cũng vừa tạnh. Tôi xuống xe, người rét run, lập cập nói:
- Vào phòng tôi, uống chén trà cho ấm bụng rồi hãy đi!
- Dạ!
Trong khi tôi đi thay quần áo thì chàng xe ôm tráng ấm pha trà. Cậu ta tự nhiên như ở nhà mình. Thấy tôi từ phòng tắm đi ra, cậu lễ phép:
- Dạ, con mời chú uống nước!
Tôi gật đầu thân thiện.
- Thưa chú, chú mới ở ngoài Bắc vô?
- Ừ, chú mới vào! – tôi đổi cách xưng hô.
- Thưa chú! Chú ở tỉnh nào ngoài đó ạ?
- Chú ở xa lắm, tận biên giới phía bắc kia!
- Vậy hả chú? Ba mẹ con cũng người ngoài đó chú à! Chỉ có má con là người trong này thôi.
Tôi tò mò hỏi:
- Ba mẹ anh người Bắc, má anh người Nam là thế nào?
- Chuyện kỳ vậy đó chú. Má ruột con là vợ hai mà chú!
- Ba mẹ anh là người tỉnh nào ngoài Bắc?
- Con nghe mẹ con nói quê ba mẹ con ở tận Cô Sầu. Cũng tận biên giới phía bắc đó chú!
Tôi giật mình khi nghe hai tiếng Cô Sầu, vội hỏi:
- Ba mẹ anh tên gì, hiện giờ ở đâu?
- Mẹ con tên Liên.
- Tên Liên, còn ba anh tên gì?
- Dạ, ba con tên Thèn… Hoàng văn Thèn đó chú!
- Mẹ anh là Vi thị Lìn!
- Dạ không, mẹ con là Vi thị Liên!
- Ừ ừ, Vi thị Lìn tức Liên, chú nhớ ra rồi! – Hình ảnh của Lìn lại bùng cháy trong tôi. Hai dòng máu Hoa và Tày đã sinh ra em. Bố em từ bên kia biên giới lưu lạc sang Cô Sầu và được ông ngoại em cưu mang rồi gả con gái cho. Cái tên Lìn của em khi chuyển sang tiếng Việt thì gọi là Liên. Ngày còn bé chúng tôi chỉ gọi em bằng cái tên mà từ thủa lọt lòng mẹ đã gọi em. Tôi choáng váng, không có lẽ nào lại như vậy. Thèn không hy sinh như người ta tưởng. Tại sao Thèn còn sống lại không trở về với vợ, với con? Tại sao Lìn lại biết Thèn còn sống mà vào đây? Trong tôi có bao nhiêu câu hỏi không tự trả lời được.
- Bây giờ ba mẹ cháu ở đâu?
- Dạ, mẹ con ở với con. Ở Lạc Dương. Mà sao vậy chú?
- À không sao, chú muốn biết thôi mà. Mẹ cháu có khỏe không?
- Dạ khỏe chú à! Chú biết mẹ con?
Anh chàng xe ôm nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên nhưng cũng lộ rõ sự vui mừng. Lúc này tôi mới nhìn kỹ khuôn mặt anh ta. Tôi nhận ra cặp lông mày hơi xếch và đôi mắt một mí của Thèn thời trẻ. Tôi có phần an tâm hơn về khẳng định của mình. Chàng trai này đích thực là con đẻ của Thèn.
Chú là bạn học từ hồi nhỏ với ba mẹ cháu, khi ở Cô Sầu!
Trời, thật vậy hả chú?
Thật vậy đấy cháu. Đã lâu lắm rồi chú không gặp lại ba mẹ cháu.
Ba má con mất rồi!
Chú xin lỗi! Chú không biết...
- Má con mất khi con lên năm. Hai năm sau, ba con cũng qua đời. Trước khi mất, ba con có gửi thư ra ngoài Bắc cho mẹ con. Con không biết ba con viết những gì trong thư. (còn tôi thì tôi đoán ra được những gì Thèn viết trong lá thư ấy). Chừng ba tháng sau, mẹ con ở ngoài Bắc lặn lội vào, tới nơi thì ba con đã mất rồi...
- Mẹ cháu ở trong này suốt từ bấy tới giờ?
- Dạ! Nhưng con không hiểu sao mẹ con cứ buồn hoài chú à! Con nghĩ chắc mẹ con buồn nhớ quê. Đã mấy lần con tính đưa mẹ con về Bắc chơi. Mẹ con đều lắc đầu không đi. Con cũng muốn ra ngoài đó thăm quê nội mà đâu có được.
- Chú muốn gặp mẹ cháu!
- Dạ! giờ thì không được đâu chú ơi! Mẹ con đi Nha Trang thăm chị con rồi.
- Chị gái của cháu?
- Dạ, chị Quỳ đó chú!
- Chị Quỳ?
- Dạ!
- Mẹ cháu đi Nha Trang khi nào?
- Khi sáng con mới đưa mẹ con ra xe. Con về thì gặp chú đó, chú à!
- Vậy ra cháu không phải làm nghề xe ôm?
- Dạ, con ở nhà làm trang trại!
- Làm sao chú có thể gặp được mẹ cháu?
- Tới khi nào chú về ngoài ấy?
- Chừng năm hôm nữa!
- Để con phôn cho mẹ con. Coi chừng nghe tin chú vô, mẹ con quay về Đà Lạt ngay đó chú!
- Đừng làm thế, chú sợ mẹ cháu mệt.
- Dạ! Dù sao con cũng phải tin cho mẹ con hay, kẻo mẹ con biết, mẹ con rày chết đó chú!
- À, tên cháu là gì nhỉ?
- Dạ, con tên Bằng đó chú! Ba con đặt tên con để nhớ về quê ngoài đó.
Bằng hẹn sẽ lại đến thăm tôi, trước khi tôi ra Bắc. Rồi Bằng xin phép ra về. Tôi nhìn theo bóng Bằng lướt nhanh xuống dốc. Phía trời Lạc Dương đang mưa. Đỉnh Lang-Bi-An phủ một màu trắng đục. Bỗng nhiên tôi thấy lòng mình trống trải quá. Tôi muốn được gặp Lìn biết chừng nào. Tôi tin rằng không phải chỉ mình tôi mà là tất cả bạn bè xưa cũ đều muốn biết tin về em. Tại sao em phải như kẻ chạy trốn? Em vào trong này sống âm thầm nơi đất khách quê người cùng với con riêng của chồng, mà không hề cho ai hay biết. Em bỏ lại quê hương, bỏ lại những mùa hoa Dã Quỳ đọng đầy biết bao kỷ niệm yêu thương của một thời thơ bé.
Mưa lại rơi. Đà Lạt chiều nay như lạnh hơn. Tôi muốn hét lên:
- Lìn ơi! đâu phải lỗi tại em!
Tôi lững thững đi. Hai bên đường mọc đầy cây Dã Quỳ. Mùa này hoa Dã Quỳ đang mùa nở rộ. Cái màu vàng tươi của hoa cùng với mùi hôi hôi hăng hắc từ thân cây tỏa ra làm tôi nhớ về Cô Sầu. Cô Sầu, cái phố huyện nhỏ tẹo ở vùng giáp biên phía bắc, nơi tôi sinh ra và lớn lên cũng tràn ngập cây dã quỳ như ở đây. Ngày ấy lũ học sinh chúng tôi thường lấy cây Dã Quỳ về ủ làm phân xanh để trồng cây trong vườn trường. Cái mùi hôi hôi hăng hắc thường làm cho tụi con gái sợ chết khiếp, cứ phải lấy khăn bịt kín mũi, kín mồm. Ấy vậy mà Lìn – cô bé xinh nhất lớp tôi lại tấm tác khen thơm. Lìn không sợ cái mùi khó chịu của cây Dã Quỳ. Em vẫn thường hái hoa về cắm lọ. Em cười bảo chúng tôi:
- Mỗi loại cây đều có tiếng nói riêng của nó. Cái mầu vàng này nhiều loài hoa khác cũng có. Nhưng chẳng có loài cây nào có được mùi hương thơm thế này. Đấy chính là tiếng nói riêng của hoa Dã Quỳ. Nếu mình đừng sợ thì sẽ thấy nó đáng yêu biết bao nhiêu… - Em hít hà cái mùi hôi hôi hăng hắc ấy, làm lũ chúng tôi bái phục.
Dân quê tôi có thói quen đập đá xếp thành hàng rào quanh nương rẫy. Những khối đá mẹ chềnh ềnh, đen bóng như những con trâu mộng, nằm rải rác trong nương cứ bị đập vỡ dần, vỡ dần. Những bức tường đá ngày một dài ra, cao lên. Cứ thế, hết đời này sang đời khác. Đến lứa chúng tôi thì nương rẫy chỉ còn toàn đất mầu. Đường cầy không còn vướng đá nữa. Cây ngô, cây sắn cứ thế mà mọc lên. Những cây Dã Quỳ cũng len lỏi sát bên hàng rào đá mà lớn lên thành bờ, thành bụi. Hạt hoa theo gió bay lên lưng núi đua nhau nẩy mầm trong kẽ đá, cây lại mọc lên xanh um. Mỗi khi mùa hoa về, những hàng rào đá và sườn núi lại vàng rực một mầu hoa. Có lẽ chẳng ở đâu có được những Phja Bjoóc (Núi hoa – tiếng Tày) như ở quê tôi. Chúng tôi vẫn tự hào bảo thế.
Cái tuổi thơ ngây qua đi. Niềm hãnh diện, tự hào về những Phja Bjoóc cũng vơi dần theo năm tháng. Chúng tôi lớn lên, mỗi đứa đi mỗi ngả. Cuộc chiến đấu giải phóng miền Nam cuốn hút lũ con trai. Lũ con gái thì vào đại học, để lại mùa hoa Dã Quỳ và những núi hoa vàng rực cho lớp lớp đàn em. Ngày tiễn tôi lên đường, Lìn tặng tôi cuốn sổ tay. Em nhẹ nhàng hái một cánh hoa cho vào trang sổ ép lại rồi đưa cho tôi. Mắt em đầy ậng nước. Nhìn tôi, em nói:
- Anh đi nhớ chóng về. Đừng quên quê mình, đừng quên mùa hoa Dã Quỳ nở. – rồi em ù chạy. Vừa chạy em vừa lấy ống tay áo chàm lau nước mắt. Để lại tôi đứng lặng bên hàng cây Dã Quỳ vàng rực màu hoa.
*
* *
Giải phóng miền Nam, tôi trở về Cô Sầu. Bạn bè kẻ còn, người mất. Lìn đã tốt nghiệp đại học. Giờ em làm chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp Cô Sầu. Cái vóc dáng nhỏ bé ngày nào giờ không còn nữa. Em phổng phao và rắn rỏi. Tôi bàng hoàng, em vẫn đẹp và trẻ trung như ngày nào. Tôi sung sướng nhìn em. Em cười, đôi mắt huyền lúng liếng cuốn hút hồn tôi. Tôi chưa kịp đưa em cuốn sổ tay trong có cánh hoa Dã Quỳ em tặng tôi ngày ra đi và trong đó còn có cả những dòng nhật ký mà tôi viết về em, về mảnh đất Cô Sầu, về những mùa hoa Dã Quỳ xiết bao nỗi nhớ. Để minh chứng rằng tôi vẫn nhớ em, vẫn nhớ mùa hoa Dã Quỳ nở và đã trở về đúng như lời em dặn ngày tiễn tôi lên đường. Một bé gái chừng bốn tuổi chạy đến nhào vào lòng em. Tôi ngỡ ngàng. Em ngượng ngùng nhìn tôi, mắt rưng lệ. Em khẽ nói:
Con em đấy! Chào bác đi con!
Trong tôi bỗng trào lên nỗi xót xa và oán giận, nhưng vẫn cố kìm cho giọng nói thật bình thường:
Lìn lấy chồng khi nào?
Lìn nhìn tôi, mắt chớp chớp như muốn khóc. Chắc rằng em đoán được tâm trạng tôi lúc này. Bé gái ngước cặp mắt to tròn nhìn tôi vẻ lạ lẫm.
Hơn năm năm rồi!
Bố cháu đâu?
- Anh không biết thật à? Thèn đấy! Thèn hy sinh rồi…
Tôi choáng váng. Ngày tiễn tôi ra đi, em đã chả nói với tôi như một lời hẹn ước đó sao? Giờ tôi trở về với em, với mùa hoa Dã Quỳ nở. Vậy mà em lại nỡ quên. Em đi lấy chồng, mà lấy ai không lấy, lại đi lấy thằng “Thèn đểu” . Cả lớp tôi đứa nào cũng ghét nó, vì nó ranh ma, lừa lọc và hay tán gái. Tụi con gái sợ nó vì nó trơ trẽn và thô thiển. Lìn như đoán được suy nghĩ. Em đã kể cho tôi nghe tất cả.
Khi Lìn đang học đại học năm thứ ba. Thèn vẫn ở nhà, vờ ốm để khỏi phải đi bộ đội. Trốn mãi không được, Thèn cũng phải nhập ngũ. Trước khi lên đường, Thèn đã bắt pá mé ( bố mẹ – tiếng Tày ) sang nhà Lìn để hỏi Lìn về làm vợ Thèn. Nhận được thư ở nhà gửi đến, Lìn choáng váng liền viết thư về cho pá mé nói rằng mình không đồng ý lấy Thèn. Ở nhà bố Lìn vẫn cho làm đám cưới. Pá mé Thèn lo đủ mười gánh đồ cưới, gồm cả chăn, màn, quần áo, lợn, gà, tiền, gạo. Những cái hòm gỗ thông quét phẩm đỏ tươi đựng đầy đồ dẫn cưới, nặng trĩu vai những chàng trai, cô gái. Lìn không về, đám cưới vắng cô dâu. Thèn tức lắm, nó bắt bố mẹ làm cỗ cưới thật to, ăn đủ hai ngày, hai đêm. Họ hàng làng xóm kéo đến “ kin lẩu ” (uống rượu – tiếng Tày) đông vui như đi hội. Đám đàn ông say lướt khướt, mặt mũi đỏ gay, chân nam đá chân chiêu. Tiếng “sái mạ” (trò chơi đố bằng tay giữa hai người, thường diễn ra trong đám hội hay đám cưới ở vùng núi phía bắc) ầm ĩ trên những mâm cỗ cưới. Tiếng “lượn” (hát đối đáp giữa nam và nữ) của những tốp con trai, con gái vang lên suốt đêm.
Lìn về nghỉ hè được ba hôm thì thấy Thèn lù lù khoác ba lô về. Lìn khóc bảo bố mẹ trả lễ cưới cho nhà Thèn. Bố giận Lìn, chửi mắng ầm ĩ. Mẹ ngất lên ngất xuống mấy lần. Lìn thương mẹ, đành theo Thèn về nhà nhà làm vợ. Mẹ bảo:
- Con gái về nhà chồng phải mặc quần áo dân tộc mình, như thế mới sống được với nhà chồng. Ông bà, tổ tiên nhà chồng mới nhận. Bộ quần áo chàm đã lâu không mặc, giờ về làm dâu nhà Thèn, Lìn nghe mẹ lấy ra mặc. Lìn vừa mặc vừa khóc. Mẹ thương Lìn cũng khóc theo. Mẹ thấy Lìn thắt dải dây lưng như con gái chưa chồng, mẹ bảo:
- Con đã có chồng rồi, phải thắt lại dây lưng, không có người ta cười cho.
Thèn mãn nguyện vì chiếm được Lìn. Ba đêm làm vợ Thèn, Lìn chỉ khóc. Biết Lìn còn nguyên vẹn là con gái, Thèn bảo pá mé mổ lợn làm đám cưới lần nữa để mời họ hàng. Khi cỗ bàn vừa bầy ra thì có hai anh bộ đội ở cùng đơn vị về tìm Thèn. Thèn tái mặt, chạy vội vào buồng nằm đắp chăn kín đầu. Lìn hỏi mãi Thèn cũng không nói. Hai anh bộ đội tươi cười chào mọi người rồi nói là đơn vị cũng cho về phép như Thèn. Giờ hết phép, đến rủ Thèn về đơn vị. Các anh vui vẻ ăn cỗ cùng gia đình. Thèn đi rồi, Lìn ở nhà chồng hết hai tháng hè. Biết Lìn đã có con trong bụng, pá mé Thèn mừng lắm. Lìn trở lại trường học nốt năm cuối cùng. Bụng mang dạ chửa, đi thực tập ở hợp tác xã nông nghiệp, Lìn vẫn phải đi cầy, xếp đất đổ ải. Bảo vệ tốt nghiệp xong cũng là lúc Lìn sinh con. Lìn đặt tên con là Quỳ để kỉ niệm về loài hoa của một thời con gái.
Lìn trở về Cô Sầu. Đại hội xã viên bầu Lìn làm phó chủ nhiệm hợp tác xã nông nghiệp phụ trách kỹ thuật. Bé Quỳ cứ thế lớn lên trong trình thương của mẹ và ông bà nội ngoại. Thèn vẫn đi biền biệt không về.
Khi bé Quỳ trong ba tuổi thì Lìn nhận được giấy báo tử Thèn. Tin dữ đến đúng vào mùa hoa Dã Quỳ nở vàng rực. Lìn lặng lẽ đến ngồi dưới hàng cây Dã Quỳ tức tưởi khóc...
Lìn khéo léo chối từ lời cầu hôn của tôi:
- Em còn chưa mãn tang mà anh! Hẹn anh sang năm, cũng vào mùa hoa Dã Quỳ nở...
Năm sau, đúng vào mùa Dã Quỳ đơm hoa. Tôi trở về Cô Sầu. Lìn đã mãn tang chồng. Chúng tôi ngồi bên nhau, dưới hàng Dã Quỳ ngày trước em đã tiễn tôi vào bộ đội. Trăng sáng như dát bạc. Những bông hoa vàng khẽ lay động, lấp lóa dưới ánh trăng. Em ngả đầu vào ngực tôi. Mùi hương lá sả em gội đầu còn vương trên tóc ngan ngát thơm. Biết bao kỷ niệm êm đềm của ngày xưa cứ hiện về trong tôi. Em ôm ghì lấy tôi, nức nở. Tôi để yên cho em khóc, nước mắt sẽ làm dịu đi nỗi đau trong em. Tôi hiểu trong lòng em lúc này ngổn ngang trăm mối. Em gọi tên tôi trong tiếng nức nở. Rồi em choàng tay kéo sát mặt tôi vào mặt em. Chúng tôi hôn nhau. Em mãnh liệt, si cuồng như bão tố. Tôi bị cuốn đi bởi dòng thác lũ nơi em. Em lần tìm bàn tay tôi, rồi kéo vào đặt nơi ngực mình. Bàn tay tôi chạm vào bầu ngực nồng ấm của em. Em thật thà nói:
Không còn được như xưa đâu! Con nó bú tóp hết rồi mà.
Ánh trăng lấp lóa soi rõ nửa thân thể trắng ngần của em. Tôi như ngây dại. Em thì thào trong tiếng thở gấp :
Em hư lắm phải không anh? Anh đừng khinh em, anh nhé. Lỗi tất cả là do em. Em đã không làm đúng như lời hẹn với anh. Em hiểu lòng anh lắm, song em không thể làm khác được. Em muốn đền bù cho anh tất cả, nhưng em có còn gì nữa đâu. Em không xứng với anh. Anh hãy quên em đi, coi như em đã...
- Không, anh vẫn yêu em mà! Anh chấp nhận tất cả. Anh sẽ coi bé Quỳ như con đẻ của anh. Lỗi đâu phải tại em!
Em lại gục mặt vào ngực tôi nức nở:
- Anh ơi! Anh đừng ... nói nữa!
Mặt trăng mờ dần trong mây. Không gian im lặng. Hàng Dã Quỳ cũng lặng yên... Tiếng giọt sương lăn tròn trên vòm lá. Tiếng giọt sương rơi nghe mơ hồ như từ một nơi nào xa thẳm...
Hôm sau em lẩn tránh tôi. Tìm gặp em bao lần mà không được. Mấy năm liền tôi về Cô Sầu để gặp em, nhưng em đều tìm cách tránh mặt tôi.
Thế rồi cũng đã gần ba chục năm qua đi, tôi không về Cô Sầu. Năm ngoái mới có dịp trở về. Chỉ nghe nói Lìn ở vậy thờ chồng, nuôi con. Lo làm ma cho bố mẹ hai nhà đâu vào đấy. Cháu Quỳ đã lấy chồng mãi tận miền Trung. Lìn vẫn ở một mình. Bỗng nhiên Lìn đi đâu đã hơn chục năm nay. Không ai biết tin gì về Lìn nữa. Có người bảo : “Lìn đi Nam tìm mộ Thèn” , có người lại nói “Lìn bỏ nhà đi theo gã buôn lậu gỗ ”. Nói em đi tìm mộ chồng thì còn nghe được, chứ bảo em đi theo trai thì tôi không tin. Em vốn là con người thủy chung, nhưng lại không dám phá vỡ cái khuôn phép đã được cha mẹ sắp đặt. Nếu em muốn “bước đi bước nữa thì” thì em đã làm vậy từ lâu rồi, chứ đâu phải đợi đến bây giờ... Nếu em muốn vậy thì ngày ấy em đâu nỡ chối từ lời cầu hôn của tôi. Tôi tin rằng em quyết ở vậy suốt đời. Điều ấy chỉ có tôi là hiểu được cho em mà thôi. Người dì ruột của em đưa cho tôi một gói ni lông được dán kín. Bà nói là của em gửi cho tôi từ cách đây gần hai chục năm. Có nghĩa là trước ngày em đi khỏi Cô Sầu. Bà đã kể cho tôi nghe tất cả những gì Lìn phải gánh chịu, sau cái lời cầu hôn của tôi với em ngày ấy. Không hiểu vì sao thiên hạ lại biết được chuyện giữa tôi và em. Thế là những lời đàm tiếu, đồn thổi bung lên ở cái phố huyện nhỏ bé vốn dĩ êm đềm và hiền lành. Một mình em phải gánh chịu những lời lẽ cay nghiệt. Rằng em đã mê hoặc, đã tấn công tôi. Em lừa tôi vào chòng, vào bẫy tình của em. Người ta bóng gió nhục mạ em bằng những lời cay độc vốn có từ ngàn đời “ Nạ dòng vớ được trai tơ, đêm nằm hý hửng như mơ được vàng ”. Có kẻ còn ác độc hơn đã nói thẳng vào mặt em: “những tưởng bà chủ nhiệm chỉ giỏi sản xuất nông nghiệp, ai ngờ bà còn giỏi cả việc giăng bẫy trai tân”. Em đau khổ trước những lời cay độc đó, không biết nói cùng ai, đêm về chỉ biết ôm con mà khóc. Tôi lặng lẽ đến bên hàng cây Dã Quỳ. Những điều bí mật giữa em và tôi từ cái ngày xa xưa ấy đều có sự chứng kiến của hàng cây Dã Quỳ này. Nay tôi muốn những điều em gửi lại cũng được hàng cây này chia xẻ. Em gửi lại cuốn sổ tay mà tôi đưa em đọc. Em ghi cho tôi chỉ vẻn vẹn có mấy dòng. Những dòng chữ bị nhòa đi vì nước mắt: “Anh! Em đã đọc đến thuộc lòng những gì em viết trong cuốn sổ này. Em càng hiểu và thương anh nhiều. Thương anh lắm anh ơi! Thương anh mà không biết làm sao được. Càng thương anh, em càng thấy giận em hơn. Thôi, số kiếp nó như vậy phải không anh? Dù sao thì em cũng toại nguyện rồi, vì đã một lần trong đời được làm vợ anh. Anh hãy tha lỗi cho em anh nhé! Ngày mai em đã đi xa rồi. Vĩnh biệt anh! Vĩnh biệt những mùa hoa Dã Quỳ quê mình...”.
*
* *
Cơn mưa bất chợt đổ xuống. Mưa đan dày ngang dọc. Hàng thông nghiêng ngả trong gió, mờ ảo trong mưa. Tôi cứ thế bước. Hai bờ Dã Quỳ rạp xuống. Mưa ào ạt rơi trên lá, trên hoa. Tôi sững người lại khi thấy một chiếc xe máy tiến đến ngay trước mặt. Tiếng người thanh niên ngồi trên xe nói át cả tiếng mưa:
- Mời chú lên xe! Con đưa chú về kẻo ướt hết.
Trong màn mưa, tôi thấy ánh mắt anh đầy vẻ thân thiện và hiền lành. Thực ra tôi đã bị ướt hết từ khi nãy rồi. Chẳng hiểu sao tôi lại ngoan ngoãn ngồi lên phía sau xe.
- Chú về đâu? Con đưa chú về.
- Tôi về số hai Yên Thế!
- Dạ !
Hai chúng tôi về đến nơi thì mưa cũng mưa cũng vừa tạnh. Tôi xuống xe, người rét run, lập cập nói:
- Vào phòng tôi, uống chén trà cho ấm bụng rồi hãy đi!
- Dạ!
Trong khi tôi đi thay quần áo thì chàng xe ôm tráng ấm pha trà. Cậu ta tự nhiên như ở nhà mình. Thấy tôi từ phòng tắm đi ra, cậu lễ phép:
- Dạ, con mời chú uống nước!
Tôi gật đầu thân thiện.
- Thưa chú, chú mới ở ngoài Bắc vô?
- Ừ, chú mới vào! – tôi đổi cách xưng hô.
- Thưa chú! Chú ở tỉnh nào ngoài đó ạ?
- Chú ở xa lắm, tận biên giới phía bắc kia!
- Vậy hả chú? Ba mẹ con cũng người ngoài đó chú à! Chỉ có má con là người trong này thôi.
Tôi tò mò hỏi:
- Ba mẹ anh người Bắc, má anh người Nam là thế nào?
- Chuyện kỳ vậy đó chú. Má ruột con là vợ hai mà chú!
- Ba mẹ anh là người tỉnh nào ngoài Bắc?
- Con nghe mẹ con nói quê ba mẹ con ở tận Cô Sầu. Cũng tận biên giới phía bắc đó chú!
Tôi giật mình khi nghe hai tiếng Cô Sầu, vội hỏi:
- Ba mẹ anh tên gì, hiện giờ ở đâu?
- Mẹ con tên Liên.
- Tên Liên, còn ba anh tên gì?
- Dạ, ba con tên Thèn… Hoàng văn Thèn đó chú!
- Mẹ anh là Vi thị Lìn!
- Dạ không, mẹ con là Vi thị Liên!
- Ừ ừ, Vi thị Lìn tức Liên, chú nhớ ra rồi! – Hình ảnh của Lìn lại bùng cháy trong tôi. Hai dòng máu Hoa và Tày đã sinh ra em. Bố em từ bên kia biên giới lưu lạc sang Cô Sầu và được ông ngoại em cưu mang rồi gả con gái cho. Cái tên Lìn của em khi chuyển sang tiếng Việt thì gọi là Liên. Ngày còn bé chúng tôi chỉ gọi em bằng cái tên mà từ thủa lọt lòng mẹ đã gọi em. Tôi choáng váng, không có lẽ nào lại như vậy. Thèn không hy sinh như người ta tưởng. Tại sao Thèn còn sống lại không trở về với vợ, với con? Tại sao Lìn lại biết Thèn còn sống mà vào đây? Trong tôi có bao nhiêu câu hỏi không tự trả lời được.
- Bây giờ ba mẹ cháu ở đâu?
- Dạ, mẹ con ở với con. Ở Lạc Dương. Mà sao vậy chú?
- À không sao, chú muốn biết thôi mà. Mẹ cháu có khỏe không?
- Dạ khỏe chú à! Chú biết mẹ con?
Anh chàng xe ôm nhìn tôi với vẻ ngạc nhiên nhưng cũng lộ rõ sự vui mừng. Lúc này tôi mới nhìn kỹ khuôn mặt anh ta. Tôi nhận ra cặp lông mày hơi xếch và đôi mắt một mí của Thèn thời trẻ. Tôi có phần an tâm hơn về khẳng định của mình. Chàng trai này đích thực là con đẻ của Thèn.
Chú là bạn học từ hồi nhỏ với ba mẹ cháu, khi ở Cô Sầu!
Trời, thật vậy hả chú?
Thật vậy đấy cháu. Đã lâu lắm rồi chú không gặp lại ba mẹ cháu.
Ba má con mất rồi!
Chú xin lỗi! Chú không biết...
- Má con mất khi con lên năm. Hai năm sau, ba con cũng qua đời. Trước khi mất, ba con có gửi thư ra ngoài Bắc cho mẹ con. Con không biết ba con viết những gì trong thư. (còn tôi thì tôi đoán ra được những gì Thèn viết trong lá thư ấy). Chừng ba tháng sau, mẹ con ở ngoài Bắc lặn lội vào, tới nơi thì ba con đã mất rồi...
- Mẹ cháu ở trong này suốt từ bấy tới giờ?
- Dạ! Nhưng con không hiểu sao mẹ con cứ buồn hoài chú à! Con nghĩ chắc mẹ con buồn nhớ quê. Đã mấy lần con tính đưa mẹ con về Bắc chơi. Mẹ con đều lắc đầu không đi. Con cũng muốn ra ngoài đó thăm quê nội mà đâu có được.
- Chú muốn gặp mẹ cháu!
- Dạ! giờ thì không được đâu chú ơi! Mẹ con đi Nha Trang thăm chị con rồi.
- Chị gái của cháu?
- Dạ, chị Quỳ đó chú!
- Chị Quỳ?
- Dạ!
- Mẹ cháu đi Nha Trang khi nào?
- Khi sáng con mới đưa mẹ con ra xe. Con về thì gặp chú đó, chú à!
- Vậy ra cháu không phải làm nghề xe ôm?
- Dạ, con ở nhà làm trang trại!
- Làm sao chú có thể gặp được mẹ cháu?
- Tới khi nào chú về ngoài ấy?
- Chừng năm hôm nữa!
- Để con phôn cho mẹ con. Coi chừng nghe tin chú vô, mẹ con quay về Đà Lạt ngay đó chú!
- Đừng làm thế, chú sợ mẹ cháu mệt.
- Dạ! Dù sao con cũng phải tin cho mẹ con hay, kẻo mẹ con biết, mẹ con rày chết đó chú!
- À, tên cháu là gì nhỉ?
- Dạ, con tên Bằng đó chú! Ba con đặt tên con để nhớ về quê ngoài đó.
Bằng hẹn sẽ lại đến thăm tôi, trước khi tôi ra Bắc. Rồi Bằng xin phép ra về. Tôi nhìn theo bóng Bằng lướt nhanh xuống dốc. Phía trời Lạc Dương đang mưa. Đỉnh Lang-Bi-An phủ một màu trắng đục. Bỗng nhiên tôi thấy lòng mình trống trải quá. Tôi muốn được gặp Lìn biết chừng nào. Tôi tin rằng không phải chỉ mình tôi mà là tất cả bạn bè xưa cũ đều muốn biết tin về em. Tại sao em phải như kẻ chạy trốn? Em vào trong này sống âm thầm nơi đất khách quê người cùng với con riêng của chồng, mà không hề cho ai hay biết. Em bỏ lại quê hương, bỏ lại những mùa hoa Dã Quỳ đọng đầy biết bao kỷ niệm yêu thương của một thời thơ bé.
Mưa lại rơi. Đà Lạt chiều nay như lạnh hơn. Tôi muốn hét lên:
- Lìn ơi! đâu phải lỗi tại em!
Thứ Bảy, tháng 5 30, 2009 | Nhãn: Truyện Hay - Sưu Tầm | 2 Comments
Khoảng trắng ngày xưa tôi - Niê Thanh Mai

Ngôi nhà lớn! Dây bìm bìm hoa tím leo kín từ mặt đất lên tầng hai. Nhìn xa như tòa lâu đài trong truyện cổ tích. Ngôi nhà mang theo tuổi thơ của tôi và những ký ức của cha mẹ tôi. Cả những sóng gió bé bỏng của chúng tôi nữa. Nó đổ sụp vào đêm qua. Trong giấc ngủ của tôi. Trong gạch vụn ngổn ngang, những bức tường gãy đổ tức tưởi, tôi thấy linh hồn mình thanh thản bước ra từ căn phòng nhỏ. Tôi mặc một chiếc áo trắng mỏng. Từ bé tôi đã gắn bó với màu trắng. Có lẽ nó hợp với nước da hơi ngăm ngăm tai tái của tôi chăng. Khi tôi vào lớp một, giữa những bộn bề lo toan và nghèo khó, mẹ đã cắt cho tôi chiếc áo trắng đến trường từ áo blouse bác sĩ của cha. Tôi vẫn cảm giác được lớp vải thô ráp và dìu dịu mùi cồn trên áo mình. Đôi lúc tôi bối rối sực nhớ về những đường chỉ cố giấu trên mép của lai áo mẹ thức đêm trước. Khi lớn lên tôi mới thấy thương mẹ. Tôi nhìn thấy tôi mặc một chiếc quần đen may bằng vải xoa. Có lẽ những câu chuyện mẹ vẫn kể về vật duy nhất mẹ tôi mua cho con gái, đã ám ảm vào đầu tôi quá lâu nên lúc nào tôi cũng nhớ đến nó. Nhìn tôi. Tôi thấy mình của 18 năm về trước. Đi qua những ngổn ngang gạch vỡ. Tôi nhìn thấy cha cũng đang cố gắng ngồi dậy phía dưới một bức tường đồ sộ. Tôi chạy tới đỡ cho cha. Bức tường nhẹ bẫng, tôi chỉ cần nhấc nhẹ là nó đã bay lên. Nhưng cha không thấy tôi. Thật nực cười vì tôi đang sờ sờ đứng trước mặt ông mà ông không thấy. Vừa thoát khỏi bức tường ông đã hối hả đi tìm mẹ tôi. Tôi thấy hạnh phúc vì điều đó. Hạnh phúc vì ông nghĩ đến mẹ tôi những lúc như thế này. Mẹ tôi là một người phụ nữ không đẹp. Hay nói đúng hơn và tàn nhẫn hơn là mẹ tôi rất xấu. Đôi khi tôi vẫn ngạc nhiên khi nhìn thấy tấm hình cưới của hai người. (Tôi có một bài tập làm văn. Đề bài yêu cầu “ Hãy tả người mẹ của em”. Tôi khóc suốt buổi chiều vì không biết tả mẹ tôi như thế nào. Tôi không đủ can đảm để viết theo văn mẫu. Mẹ nhìn đề bài của tôi và thờ thẫn cả mấy ngày sau đấy. Khi lớn lên tôi mới nhận ra mình thật ngu ngốc). Trong suốt tuổi thơ mình, chưa bao giờ tôi thấy hai người đi cùng nhau ra phố. Cha tôi là bác sĩ thú y. Tôi theo cha đến mọi nơi ông chữa bệnh cho heo gà những lúc không đến trường. Tôi thích ôm chặt hông cha khi xe đạp long xòng xọc trên những con đường mòn mấp mô như đường lên núi. Những con đường sặc sụa bụi và đỏ quạch đầu tóc khi quay về. Khi lớn lên, tôi vẫn nhớ suốt hình ảnh những con đường hăng hắc mùi hoa quỳ. Nhớ cả lưng áo ướt đẫm của cha trên đầu những con dốc. Cha tôi là một người đàn ông đẹp trai. Ngay cả khi vất vả nhất nhìn ông vẫn rất phong trần. Tôi tự hào về cha. Và bám riết sau lưng cha trong suốt tuổi thơ tôi. Mỗi khi trở về nhà, mẹ mở cổng và đón chúng tôi. Mẹ ít khi nào ra đường. (Thế giới của mẹ quanh quẩn với vườn rau quanh nhà, chuồng heo lẫn chuồng gà phía cuối vườn. Tôi luôn nhìn thấy ở đấy dáng vẻ tất tưởi của mẹ). Hình ảnh đẹp nhất mà tôi nhớ được về mẹ trong tuổi thơ của mình là khi mẹ tưới rau vào mỗi buổi chiều. Khi hoa cải trổ ngồng, hoa vàng một vạt. Dạo đó mẹ xuýt xoa mãi vì tiếc không ăn kịp mà rau cải mau già. Đôi lúc tôi tự hỏi, mẹ có biết gì ở ngoài kia không? Cha vẫn thường đi họp phụ huynh cho tôi. Đúng hơn chỉ duy nhất mình cha đi họp. Cô giáo chủ nhiệm của tôi còn rất trẻ. Ở lớp chúng tôi vẫn hay ngắm cô bằng đôi mắt trẻ thơ của mình. Mấy thằng con trai kháo rằng cô có cái eo chuẩn nhất thế giới. Con gái bảo nước da cô có thể mang lên ti vi để quảng cáo mỹ phẩm. Tôi nhìn cô và ước rằng mẹ tôi cũng đẹp như thế. Tôi có thể ra phố với mẹ. Tôi có thể đi công viên với mẹ. Và hãnh diện nghe mọi người khen sao con gái giống mẹ đến thế. Có lẽ vì những điều đó mà tôi rất yêu cô giáo. Tôi thích đến nhà cô. Cô đón tôi bằng sự dịu dàng. Cô dạy toán cho tôi bằng bàn tay thon nhỏ trắng muốt. Tôi nghe được cả mùi lá hương nhu trên tóc khi cô cúi xuống chỉ những lỗi sai trong bài làm của tôi. Tôi kể những điều đó cho cha một cách hồ hởi khi ông đến đón tôi về. Mỗi ngày cha đều đến đón tôi. Mỗi ngày cha đều nghe tôi thao thao về cô giáo trẻ và đẹp của mình. Tôi nằn nì cha đến gặp cô giáo của tôi. Cha đưa tôi đi xem lễ hội. Mẹ lắc đầu khi cha bảo mẹ vào nhà thay quần áo đi cùng hai cha con. Mẹ bảo mẹ ở nhà và xem ti vi. Ti vi truyền hình trực tiếp coi rõ hơn. Ra ngoài đó đông đảo và ồn ào. Mẹ không chịu được nơi đông người, ngộp thở lắm. Tôi muốn cha đến rủ cô giáo đi chơi cùng. Cha ngập ngừng nhưng cũng dừng xe trước cửa nhà cô. Cô giáo không muốn đi, cha tôi cũng không nài nỉ như nài nỉ mẹ trước đó nhưng tôi thì rơm rớm nước mắt. Cô leo lên xe ngồi sau lưng cha một cách gượng gạo và nhẹ nhàng. Tôi thấy mình sung sướng. Mẹ hay ngồi ngoài vườn lúc tôi đi học về. Bên cạnh là con mèo đen già nua và lười biếng. Mẹ lại đan một chiếc áo mới. Suốt ngày mẹ cặm cụi với những que đan và những cuộn len. Tôi thường thấy những cuộn len lăn dưới chân mẹ. Cha thường xuyên không về nhà ăn cơm chiều. Mẹ ngồi ngoài vườn đến khi không thấy rõ mặt người mới vào nhà. Tôi ăn cơm một mình. Căn nhà trống rỗng và yên ắng. Tiếng người nói trong ti vi cũng trở nên xa vắng. Tôi đi ra phố với lũ bạn. Và quên mất bữa cơm chiều. Có lẽ mẹ chẳng nhớ tôi không về nhà. Mẹ gắn bó với len và những que đan hơn. Len và những que đan mang lại cho mẹ niềm vui. Có lẽ vì mẹ quen làm bạn với chúng bằng sự điềm đạm và say mê nên chúng mang lại cho mẹ sự nổi tiếng. Người ta bắt đầu nói về những sản phẩm của mẹ bằng sự ngưỡng mộ. Trong nhà tôi la liệt sản phẩm từ len rồi cả dây dù. Nhà tôi bắt đầu đông người. Những người phụ nữ quanh nhà và cả những cô gái nhìn hiền lành như đất và ngây thơ cười khi nhìn thấy tôi. Những cô gái mẹ gọi lên từ dưới quê. Khu vườn trồng cải bên hông nhà được lợp kín và trở thành một cái xưởng nhỏ. Nơi đó lúc nào cũng rộn ràng tiếng cười. Đôi khi tôi nghe cả tiếng hát. Tôi không còn tìm được sự lặng lẽ của mẹ. Tôi thấy mẹ cười, với cả những người lạ. Cha không san sẻ được những niềm vui với mẹ. Ông bận rộn với một người khác mẹ tôi. Cuộc rong chơi của ông làm tôi day dứt và xấu hổ. Cô giáo tôi ngày nào bây giờ là nỗi muộn phiền trong tôi. Tôi đi tìm cha bằng sự u uất. Tôi đến nhà cô. Chiếc xe cha dựng khéo léo dưới lùm cây trần bì, nơi còn ghi dấu vết của tuổi thơ tôi. Tôi mở cổng bằng sự cẩn trọng và run rẩy. Tôi thấy cha nằm ngả đầu trên đùi người đàn bà ấy. Họ đắm đuối nhìn nhau. Họ cuộn lấy nhau và sõng soài dưới nền nhà. Tôi nhìn thấy bàn tay cha tháo tung những miếng vải trên người đàn bà ấy và hôn ngấu nghiến lên đó. Những cái hôn thèm thuồng và tham lam có bao giờ đã dành cho mẹ tôi. Tôi hét lên khi cha nhào lên người đàn bà. Lần đầu tiên tôi nhìn thấy ánh mắt hãi hùng và tủi hổ của cha khi đối diện với con gái. Tôi hả hê nhìn thẳng vào mắt họ. Ánh mắt tôi ánh lên những tia vằn vện: “Các người sẽ được trả giá cho việc này. Tôi hứa như thế.” Tôi ra về. Mang theo sự nhục nhã của cha và căm giận cho chính tôi. Tôi khóc trong phòng mình. Và ngủ quên khi mắt còn sưng mọng. Tỉnh dậy tôi không nhìn thấy được mặt mình trong gương. Khi cha vào phòng tôi, ông ngồi trên ghế và đầu gục xuống một cách thảm hại. Ông không nói được lời nào có lẽ vì mắt tôi lạnh và nhiều sát khí. Tôi viết những lá đơn bằng chiếc máy đánh chữ trong phòng của mẹ. Những lá đơn thấm nước mắt. Sự trả thù ngốc nghếch của tôi ném đi hạnh phúc bé nhỏ mà bao năm nay mẹ tôi gìn giữ bằng sự cẩn trọng. Tôi muốn biết khi cha tôi mất việc, khi ông chới với giữa sự gièm pha của mọi người thì ai là người đón lấy ông? Cả cha và người đàn bà riêng của cha đều bị kiểm điểm trước cơ quan vì mối quan hệ ấy. Ông trở về nhà bằng sự yên lặng vào mỗi buổi chiều. Mẹ tôi nhìn ông bằng đôi mắt buồn. (Đêm trước mẹ sang ngủ với tôi. Mẹ không nói gì. Khi tỉnh giấc mẹ gọi tôi dậy bằng giọng dịu dàng. Tôi uể oải lăn mình vào mép tường. Mẹ bâng quơ như nói một mình “Con nông nổi lắm. Mẹ không thể trách vì những điều con làm. Nhưng tàn nhẫn quá con gái của mẹ.” Tôi yên lặng. Nước mắt thấm ướt vạt gối. Mẹ có trách tuổi thơ nông nổi của tôi không?) Mẹ giao cho người quản đốc trong xưởng quản lý mọi việc và vào bếp nấu ăn cho cha. Tôi nhìn thấy hoa hồng nhung rực rỡ khi trở về nhà. Tôi nghe thấy bản nhạc không lời của Richard Claydeman dịu dàng trong phòng khách. Một buổi chiều. Tôi gặp cô giáo cũ trong phòng khách của nhà mình. Cô ngồi khép hai chân bằng một khuôn mặt buồn và mệt mỏi. Mẹ tôi ngồi đối diện cô. Bao nhiêu năm rồi mà tôi vẫn nhận ra cô nổi bật rất nhiều so với sự cằn cỗi của mẹ. Tôi ngồi xuống cạnh mẹ. Tôi nghĩ rằng mẹ cần có tôi bên cạnh khi đối diện với cô. Nhưng khi ngồi xuống, tôi mới thấy cô thật tội nghiệp. Có lẽ sự tội nghiệp của cô có rất nhiều lỗi từ tôi. Mẹ tôi dịu dàng, sự dịu dàng cố hữu. Cha yên lặng như một pho tượng. Mái tóc cha rũ xuống trên vầng trán cao đầy quyến rũ. Mẹ cho cha sự chọn lựa. Cô đã khóc khi mẹ tôi nói điều ấy. Mẹ nhìn cha và bảo là tôn trọng những quyết định của ông. Một người phụ nữ khổ là đủ rồi. Mẹ không sao. Mẹ có niềm vui của mẹ. Chỉ cần tôi ở bên mẹ là đủ. Cha nhìn cô. Cái nhìn thật sâu. Cô òa khóc khi cha nói lời xin lỗi. Mẹ hét vào mặt cha giận dữ “Anh hèn, anh cướp mất tuổi xuân của cô ấy rồi”. Tôi biết cha không thể có sự chọn lựa nào khác. Cha yêu mẹ. Và sự rong chơi của cha đã kết thúc. Tôi đã cố gắng lãng quên những lỗi lầm của cha. Mỗi lần nhìn thấy ông, cổ họng tôi lại đắng ngắt. Đắng như người ta uống một nắm thuốc. Thuốc không trôi vào cổ họng và ở mãi trên lưỡi. Cha không nhìn được vào mắt tôi. Ông loanh quanh với những việc vặt vãnh trong xưởng của mẹ bằng đôi vai gầy và dáng đi hơi cúi. Mẹ vẫn thường nói chuyện với cha trong bữa cơm. Tôi thấy mắt mẹ buồn, khuôn mặt mẹ ghim gút một điều gì đó. Tôi không tin rằng mẹ quên sự rong chơi của cha nhanh đến thế. Sự hiền lành của mẹ không mang lại cho cha một sự thanh thản như tôi vẫn tưởng. Tôi nhìn thấy cha trong căn phòng kho áp mái. Một mình. Với chăn đệm dầy và xốp. Thứ chăn đệm model thời thượng. Gian phòng nhỏ và lạnh lẽo. (Tôi không biết điều đó xảy ra từ bao giờ. Tôi không mấy khi lên lầu. Tôi quen quanh quẩn với giang sơn của mình, vùi mình trước màn hình vi tính và những thứ giải trí sang trọng trong căn phòng của tôi.) Tôi thương cha. Và hiểu sự dịu dàng của mẹ dành cho ông. Chao ôi! Tôi mệt mỏi trong căn nhà của mình. Đêm qua. Tôi mơ thấy ngôi nhà tôi sụp đổ. Giống những ký ức trở thành gạch vụn ngổn ngang. Nhưng sáng nay mở mắt dậy. Tôi vẫn thấy mình vùi trong chăn ấm. Và nắng phải cố gắng lách qua tấm rèm xanh sang trọng, hôn lên đôi mắt buồn của tôi.
Thứ Bảy, tháng 5 30, 2009 | Nhãn: Truyện Hay - Sưu Tầm | 0 Comments
Về bên kia núi- Niê Thanh Mai

Em mặc yên bằng bàn tay gân guốc của mẹ. Yên cứng và còn thơm mùi hồ. Áo tròng qua cổ, cổ tay em nhỏ và mềm ngọ nguậy dưới lớp áo đen thẫm. Áo mới, em theo chị đi dự lễ tối nay.Chị Xuân đẹp. Chị mặc yên mặc áo một mình. Cứ xoay trước xoay sau trước mặt bà để bà khen. Bà già rồi, nhưng bà muốn nhìn thấy ngày xưa từ dáng tròn mây mẩy hồn nhiên như lá của cháu gái. Vì vậy mỗi khi mặc yên mới, áo mới. Chị Xuân lại làm bà rơm rớm nước mắt. Nước mắt bà lăn từ những nếp nhăn xếp đều đặn trên mặt. Em thấy thương bà.Chị Xuân không muốn ở mãi một xó rừng.Chị nói với em điều đó khi chị em cặm cụi lên rẫy buổi sớm. Con đường mòn gập ghềnh và dốc. Mùa khô gió bốc từng nắm bụi ném vào mặt người. Mặt em lấm lem, mặt chị cũng thế. Chị ném những quả bắp to bằng bắp chân trẻ con của em vào bao bực dọc. Trưa chị không ăn cơm, em ngồi một mình với nắm cơm gạo trắng. Cơm ăn với muối vừng. Chị ngồi mãi ở gốc cây muồng, mông lung nhìn về cuối chân trời. Xung quanh chị hoa vàng rụng kín. Em thấy chị lau nước mắt vào chiếc yên cũ kỹ và sờn hết gấu.Em thấy anh Plin nhìn chị. Anh mắt anh sáng lấp lánh như vòng đồng bắt gặp ánh nắng buổi sớm. Anh nhổ củ mì cho em bằng đôi tay rắn như gỗ rừng, củ mì gãy đôi, sữa trắng lấm lem đất. Anh nhặt cây khô nướng củ mì cho em ngay bên bìa rẫy. Em bẻ một nửa cho chị, nhưng chị không ăn. Chị bảo không thích ăn củ mì, chị thích ăn xôi nếp với thịt gà chấm muối ớt xanh. Câu nói của chị làm mắt anh hơi tối lại. Ngày hôm sau anh mang đến rẫy một con gà rừng. Gà bọc trong đất sét, trắng nõn khi anh lôi ra từ đống than hừng hực. Chị nhấm nhấm chiếc đùi gà rồi bỏ xuống xách gùi đi bẻ đọt mây. Chị bảo chị không thích nữa. Em thương anh Plin. Nhìn theo dáng khập khiễng của anh, em thấy chạnh lòng.Chỉ có em mới biết chị muốn gì.Chị không nói chuyện với mẹ. Chỉ thì thầm hát với em.Những hôm trời mưa, em nằm gọn trong lòng chị. Tay vân vê những sợi tóc dài mượt đen bóng vì gội bằng bồ kết rừng. Em nghe chị hát, giọng chị trong trong và ngọt như nước đầu nguồn tuồn trong ống lồ ô. Chị hay mân mê yên mới trong tay. Em thấy chị dệt túi mới, may áo mới. Mặt chị ngời ngời sáng.Chị muốn lên phố. Bạn chị lên phố ba năm, quay trở về làng bằng đôi dép cao nghều nghệu, gót nhọn hoắc, chênh vênh như người ta chơi trò cà kheo. Áo xanh lông két, váy mềm lòe xòe bay bay khi bạn chị leo lên cầu thang.Em nép sau cửa buồng nhìn chị gói quần áo vào túi xách. Hớn hở. Khi chị xách túi bước xuống cầu thang thì quay lại nhìn em, ngùi ngùi. Chị thơm em thật lâu ở má trái, má phải. Nước mắt chị thấm ướt má em. Vậy mà chị vẫn đi. Chị giúi vào tay em tờ giấy nghệch ngoạc. Em nhỏ quá chẳng biết chị viết gì. Chỉ thấy mí trở về ngã xuống sàn nhà. Từ hôm ấy câm lặng cho đến khi em lớn.Mí giận em. Nếu chị với em đều là núm ruột của mí có lẽ lại khác. Chị Xuân là con gái mẹ lớn. Mẹ lớn về với ông bà ngay sau khi sinh chị Xuân được hai giờ đồng hồ. Không có người chăm sóc trẻ con, không có người dỗ nó khóc lúc nửa đêm gần sáng, không có người bón nước cháo lúc nó đói. Cha nối dây với mí của em. Rồi cha mất, chị Xuân ở với mí. Mí không xem chị Xuân là con chồng. Nhưng người làng mấy ai hiểu hết lòng mí.Em lớn và biết mặc váy áo một mình. Em tự dệt váy cho mình. Mền cũng cũng tự em dệt cho mình. Bà không còn ngồi bên khung cửi nữa. Chân bà run và yếu, bà không đủ sức duỗi chân để dệt áo cho bà nữa. Mí đi rẫy suốt và trở về đến nhà vào lúc chiều tối, khi ánh nắng là những vệt mờ xa tít ở chân trời. Mí chẳng bao giờ nói chuyện với em, cũng chẳng nói chuyện với bà. Mí nhìn em bằng cái nhìn sẫm buồn.Em chẳng có bạn cùng lứa. Bạn em là những đứa trẻ con, tóc vàng hoe và cháy khét. Chẳng đứa nào mang dép. Chúng có những chiếc quần đùi mỏng thếch, áo thun nhàu nhàu mùi đất. Chiều nào em cũng tắm gội cho chúng. Em lôi từng đứa xuống suối, vò đầu vò tóc và kỳ cọ. Chúng bám lấy vai em, hò hét ỏm tỏi. Tắm xong chúng trèo lên trên bờ, lúp xúp trên những tảng đá và hát. Chúng chờ em giặt quần áo cho bà.***Em nhìn thấy Plin một mình.Plin ngồi trên tảng đá với con chó nhỏ. Con chó có lông vàng và gầy tong teo. Anh thổi sáo bằng hai tay, bằng cả đôi mắt nhắm nghiền, một chân vung vẩy và mái tóc xoăn xoăn mềm.Em đứng chôn chân nhìn. Cách Plin khoảng hai chục bước chân. Bỗng thấy trong lòng mình một cảm giác rất lạ lùng. Tiếng sáo kéo em lên lưng chừng không gian. Từ trên đó nhìn xuống dưới mọi thứ thật nhỏ bé và thơm. Mùi cỏ, mùi bùn, mùi hoa lan nép mình dịu dàng trên những thân cây.Khi em mở mắt thì Plin đang nhìn em. Anh mắt anh buồn và mệt mỏi. Từ ngày chị đi, anh cứ ngồi mãi chỗ này mỗi buổi chiều. Anh đợi chị quay về bằng cây sáo 6 lỗ với những âm thanh da diết. Chân anh lấm đất, đầu anh khét mùi nắng nhưng hai tay anh lúc nào cũng ôm cây sáo.Em mỉm cười rồi quay lưng đi, suýt vấp vào con chó vàng gầy tong teo đang quấn dưới chân.***Bà đã ngủ một giấc trưa. Và không tỉnh dậy nữa.Mí khóc vật vờ và dai dẳng. Người ta lôi cái trống lớn nhất, đánh bên phía bịt da con trâu đực. Sầm sầm và buồn. Trống báo tin làng có người mất. Chỉ chốc lát nhà em đã đông nghịt là người, đàn bà trong làng vừa leo lên cầu thang đã khóc, khóc từ cầu thang lếc dần vào nhà. Những tiếng khóc buồn miết vào không gian não nùng.Em ngồi ở bậc cửa sau, luôn phải nép người sang một bên cho những người phụ nữ lo cơm nước đi lên đi xuống. Em không khóc, em mân mê chiếc yên mới tự tay em dệt mà bà chưa kịp mặc lần nào.Người ta đưa bà đến nghĩa địa. Đến ở chung với những người đã chết. Người đi đưa đông. Nhưng không có chị. Chị không biết tin nên không về. Không ai biết chị ở đâu để báo tin. Em vùi xuống đất một chiếc ché mới, nắm ba nắm cơm gạo nếp đặt vào đó. Em khóc khi mọi người về hết. Em ngồi một mình cho đến khi không còn nhìn thấy mặt người. Plin đến đưa em về, ngọn đuốc của anh chập chờn ma quái đã mang em khỏi nghĩa địa của bà.Bà trở về nhà đêm ấy.Bà đi vào từ nhà trước và ngồi xuống bếp lửa. Bà bảo sao không vùi khoai vào bếp cho nhà có mùi thơm. Không khí trong nhà chết chóc quá. Bà mặc chiếc áo mới, yên mới. Cổ tay đeo đầy vòng đồng. Gót chân bà nứt nẻ và thâm sì. Bà bảo đau chân, đau cả lồng ngực nữa. Bà không thấy cháu gái về nên không đi đâu được. Bà nhớ cháu gái của bà, cháu xinh và người tròn đầy mây mẩy.Em tỉnh dậy khi mồ hôi ướt đẫm. Bà không có ở đây, chỉ có mí ngồi thờ thẫn bên bếp. Dáng mí còng và tội nghiệp. Gian nhà nhỏ xíu thơm thơm mùi khoai lang nướng. Có lẽ mí cũng nghe lời bà. Bà chẳng bao giờ ăn khoai nướng nhưng thích nghe mùi thơm của nó. Em sờ lên má mình, thấy má ướt. Em đã khóc khi đang vùi trong giấc ngủ chập chờn.…Em không ngủ được vì tiếng giã gạo của mí mỗi đêm. Em nghe cả tiếng hát ư ử buồn buồn phía dưới sàn nhà. Nhà thênh thang và buồn. Em đi tìm Plin.***Em nói với Plin rằng muốn đi tìm chị.Plin nhìn vào mắt em. Không nói. Nhưng em biết Plin đang hỏi em có biết chị ở đâu không mà đi tìm. Em khóc, nước mắt làm khuôn mặt em mờ đi và nóng hổi. “Em không biết, nhưng em phải đi tìm chị về.”Em chạy về nhà. Em bỏ quần áo vào túi xách. Mí nhìn thấy không hỏi gì. Em đứng tần ngần trước mí, chào nghèn nghẹn. Mí không hỏi em đi đâu, vì sao lại đi. Em chạy xuống cầu thang, vừa chạy vừa khóc. Em hay khóc thế có khi nào em không còn thấy đường trước mặt nữa không.Em đi một mình trên phố. Em mặc áo vải hoa và quần tây. Em nhớ mùi hồ của yên, cái cấn cấn của tay áo em tự dệt. Nhưng em phải mặc quần áo người Kinh để đi tìm chị cho dễ. Em xuống chợ. Mỗi sáng gùi một gùi măng lấy lại của người cùng làng. Em mong gặp chị vì em chẳng biết chị ở đâu.Chợ đông và ồn ã. Em không biết rao. Ai dừng lại ở hàng em, em cười và dịu dàng mời mọc. Tiếng em nhỏ. Em hay nhìn sâu vào mặt những người phụ nữ ngồi trên xe, bịt mặt kín mít. Họ mua hàng và luôn miệng kêu đắt. Có khi nào trong số đó có chị của em. Em bị xe đô thị hốt hai lần, cả hai lần em đều níu gùi lại cật lực và khóc. Họ sửng sốt nhìn em. Họ không biết em chẳng tiếc gì những cành măng trong gùi. Em chỉ sợ không gặp được chị khi vắng một buổi chợ.Nhưng em không gặp chị. Chị không đi chợ và không mua hàng của em.Em không gặp chị. Có lẽ chị của em đã đi mất rồi.Em đứng một mình giữa trời nắng. Khóc và thấy trống rỗng.Em phải về làng. Mí chắc không vui. Nhưng em chẳng biết làm sao.…Em vào sâu trong chợ. Em muốn mua cho mí một cái gì đó. Em cũng sẽ mua cho Plin một cái mũ. Plin vẫn để đầu trần. Tóc xoăn và cháy nắng. Nhìn Plin hoang dã. Em thương cái hoang dã ấy của Plin.Em nhìn mọi thứ bằng con mắt lạ. Rụt rè và không dám dừng lại ở bất cứ hàng nào. Mọi người nhìn em cũng bằng con mắt lạ. Nhưng họ quên ngay em sau đó và đổ xô đến cuối chợ xem một đám cãi nhau. Tiếng gào thét ầm ĩ. Hình như hai người đàn bà đang túm tóc nhau. Họ hét vào tai nhau những tiếng tục tĩu lanh lảnh. Em nghe như tiếng hét của chị.Đó là chị của em.Chị dừng cuộc vật nhau bằng bộ dạng tơi tả. Tóc chị rối tung. Quần áo có nhiều vết toạc. Em nép vào tường. Mép tường nham nhở. Em nhìn chị từ xa xa sau những vết nham nhở ấy. Chị của em. Có lẽ không. Chị em mặc yên mới, áo mới chứ không nhàu nhĩ như thế kia. Tóc chị em không xù và vàng rực như thế kia. Chị em không bao giờ nói với ai nặng lời, nhăn mày với ai quá một ngày.Em rời mép tường nham nhở. Rón rén đến gần đám đông bằng bước chân run run. Em sẽ ôm chị và khóc tức tưởi nhé. Em sẽ bảo chị về nhà. Mí không mắng chị vì chị bỏ nhà đi lâu đến thế. Em sẽ nói với chị rằng Plin đang đợi chị.Mà có khi không phải chị đâu. Em muốn thế. Em run run nghĩ thế.Lô nhô người. Họ xúm quanh người ngồi bệt dưới đất một cách hiếu kỳ. Nhìn qua vai của những người đang xúm đông ấy, em thấy vết sẹo dài và nhỏ như sợi chỉ vắt ngang trên thái dương bên trái. Dấu vết của lần cành cây rơi xuống khi chị và em đi rẫy về gặp giông.Chị nhìn em.Chị có thấy không mà mắt thảng thốt thế kia.Chị có nhận ra em không mà xoay người phủi đất cát dưới mông mà quay lưng đi thẳng một mạch thế kia.Chị quên mặt em hay chị không muốn em thấy chị như thế này.…Đám đông tan ngay sau đó. Chỉ có em đứng thẫn thờ giữa lối đi. Có người đi ngang mắng em sao đứng nghênh ngang giữa đường. Chị không xuất hiện để bênh em.Có lẽ chị đi thật rồi.***Em trở về làng vào một buổi sáng.Em đã đi bộ suốt đêm trên con đường nhấp nhô đá. Hai bàn chân em tê buốt. Nhưng không buốt bằng khi em nhớ về chị. Má em nóng rát vì nước mắt.Mí ôm chầm lấy em. Mí sờ soạng khắp người em như kiểm chứng rằng em có phải bằng xương bằng thịt hay không. Đứng thật gần mí, em mới phát hiện ra mí già đi nhiều quá. Khóe mắt không đếm nổi có bao nhiêu vết chân chim.Mí không hỏi em có tìm thấy chị hay không? Em cũng không nói rằng em đã gặp chị và không nói được rằng chị nhất quyết không trở về làng. Chị không muốn sống cuộc sống của mí, của em. Chị muốn là người thành phố. Chị bảo có thể sống khốn khó nhục nhã ở đây cũng được. Chị quen rồi.Em nhìn thấy Plin trên đường ra suối. Plin ôm chầm lấy em, cái ôm của Plin chặt và nóng ấm. Em gục vào ngực Plin và khóc tức tưởi. Nước mắt em thấm ướt một vạt áo. Plin thầm thì “ Em ơi đừng khóc. Em đừng đi tìm chị Xuân nữa. Chị Xuân trở thành người dưng của làng mất rồi. Chị Xuân không trở về nữa đâu.”“ Chị đi mãi vì làng mình nghèo phải không Plin.”“ Anh không biết. Nhưng làng hết nghèo thì chị Xuân cũng không trở về nữa đâu em à.”Em im lặng. Chị không về Plin có đau lòng không. Plin yêu chị.Em im lặng. Chị không về mí có đau lòng không. Vì mí luôn thấy có lỗi khi chị rời bỏ làng.Nhưng chị không về, trái tim em nhói buốt. Mí tưởng rằng em không tìm được chị. Mí vẫn đợi cửa chị mỗi khi đi ngủ. Mí chờ chị rời phố phường và về bên kia núi. Em thương mí. Và em thương em.
Thứ Bảy, tháng 5 30, 2009 | Nhãn: Truyện Hay - Sưu Tầm | 0 Comments
Người đàn bà bí ẩn - Niê Thanh Mai

Đêm nay mọi người sẽ ngủ giấc ngon ở Côn Minh nhé!".
Cô gái hướng dẫn viên đưa cho tôi chìa khóa, kèm theo một nụ cười thân thiện. Cô ấy mặc một chiếc áo xanh dương có in một chiếc mặt trời rực rỡ trên ngực. Tôi nghĩ nếu là đàn ông, tôi sẽ khuỵu ngã trước nụ cười ấy
Có vẻ rất bí hiểm. Tôi sẽ được ở một mình. Nhưng khi đến trước cửa phòng, đã có một cô gái chờ sẵn ở đó. Cô gái có nước da xanh tái và gầy như một cái cây. Vô tình đi ngang qua gương, tôi thử so sánh và giật mình nhận ra ngay lập tức là tôi gấp đôi cô ấy.
Mẹ không muốn tôi lang thang một mình.
Tôi lang thang. Không với ai cả. Tôi mang toàn bộ số tiền dành dụm được đăng ký chuyến lữ hành khi nhìn thấy Hoàng chở một cô gái đi ngang khu nhà trọ. Hoàng nhìn thấy tôi đang đứng chải tóc ở cửa phòng. Tôi không nhìn thấy Hoàng lần nào sau đó. Và cũng không biết vì sao Hoàng lại không nói là tạm biệt như mọi người yêu nhau vẫn nói khi họ chẳng còn gì dành cho nhau.
Côn Minh lạnh. Nhưng trong phòng hơi ngột ngạt, tôi mở cửa sổ, đi chân không. Nền lan can ẩm ướt. Phía dưới chân khách sạn là khu chợ nhỏ xíu có vẻ sầm uất.
Tôi lang thang giữa chợ. Người đông. Những chiếc bạt vuông vắn trải dưới đất bán đầy rẫy vòng tay dành cho con gái. Tôi thích một chiếc màu nâu. Nhưng tôi không biết nói tiếng Trung Quốc để hỏi giá. Tôi thấy cô gái cùng phòng đang đứng ở ven đường, tôi rủ cô ấy đi cùng. Tôi muốn mua một chiếc áo len. Tôi không biết Côn Minh lạnh như thế nên mang toàn những thứ quần áo ngắn cũn và hở vai. Cô gái chọn cho tôi chiếc áo màu vàng nhạt. Có đường viền ở cổ và thêu một con mèo trước ngực. Tôi không thích mèo. Nhưng chiếc áo có vẻ xinh. Tôi đồng ý mua với giá 50 tệ. Hình như cô ấy thích màu vàng. Tất cả mọi thứ của cô ấy mang trên người đều viền cái gì đó màu vàng.
Cô gái cùng phòng dắt tôi đi qua các con phố đông đúc. Có vẻ cô ấy rành về nơi này.
- Bạn nhìn thật kỹ mọi thứ nhé. Kiếp sau của con người không quay lại được nơi mình đã đi qua đâu.
Cô gái có vẻ thành khẩn. Tôi thấy cô ấy có vẻ kỳ lạ và tâm trạng. Tôi muốn đi tiếp nhưng cô ấy không đồng ý. Cô ấy dắt tôi quay trở lại khách sạn. Đồng hồ chỉ mười giờ tối. Chợ đã vãn.
Khi trở về phòng, cô ấy không nói với tôi tiếng nào. Cô ấy vặn đèn tối và lên giường ngủ trước tôi.
Đêm, tôi tỉnh giấc khi nghe có tiếng khóc thút thít. Mở mắt, tôi thấy cô ấy ngồi thu gọn trong chiếc ghế bành. Trông tội nghiệp như một con mèo.
Ngày thứ hai.
Tôi mang theo ba lô và lếch thếch ở cuối đoàn tham quan. Dốc núi cao làm tôi mệt rũ rượi. Cô gái cùng phòng có vẻ ngoài mảnh khảnh, da xanh tái phăm phăm đi trước. Khi cô gái hướng dẫn viên mặc áo màu đỏ có mặt trời rực rỡ trước ngực đang thuyết minh về việc ra đời của di tích thì cô ấy đã lên đến đỉnh núi.
Từ dưới đất, tôi nhìn thấy cô ấy quỳ xuống trước cột đá, vẻ mặt thành khẩn - vẻ mặt đêm trước khi cô đi với tôi ở chợ đêm. Khi mọi người lên gần đến nơi thì tôi gặp cô ấy đang bước xuống từng bậc. Bước chân chậm rãi và mệt mỏi. Cô ấy không nhìn tôi. Không ai hỏi vì sao cô ấy tách riêng đoàn như thế. Có lẽ cô ấy đang nhận được sự tôn trọng tự do đặc biệt.
Cô gái dựa vào vai tôi trên đường về. Tôi để cô ấy nằm yên như thế rất lâu. Tôi không làm gì ngoài việc nhìn ra cửa kính. Ở đó có những bông hoa hướng dương vàng rực cháy sáng cả cánh đồng thuốc lá xanh um. Tôi mỏi. Nhưng không nỡ đẩy ra. Hình như cô ấy ngủ. Tôi nhìn nghiêng và thấy môi cô hơi mím lại. Nhưng từ khóe mắt đang nhắm nghiền hai giọt nước chầm chậm lăn xuống má. Khi ngẩng lên, tôi bắt gặp cái nhìn của người đàn ông lạ. Người ấy nhìn chúng tôi bằng cái nhìn ái ngại. Có lẽ anh ta thích một cô gái yếu ớt.
Đêm. Cô mang giày, quàng khăn vào cổ. Cô mặc một chiếc áo màu nõn chuối và mang găng tay. Tôi thấy cô dừng lại trước gương. Cô ấy quệt lên môi một chút son. Có lẽ son làm cô ấy tự tin hơn.
Tôi không biết cô đi đâu. Khách sạn dừng lại tối nay không có chợ ở dưới đường. Từ trên cửa sổ, tôi nhìn xuống vườn, thấy mọi thứ yên ắng và tối lạ lùng.
Tự dưng tôi sợ hãi. Tôi mang giày, mặc áo len và mang găng tay. Tôi đóng cửa rồi đi xuống vườn. Tôi gặp người đàn ông ban chiều ở đại sảnh. Anh ta chào tôi bằng tiếng Trung Quốc: "Nỉ hảo". Tôi rủ anh ta đi dạo. Không ngần ngừ, anh ta đi theo tôi.
Có lẽ ban ngày khu vườn của khách sạn rất đẹp. Trong mờ mờ tối của thứ ánh sáng vàng của ngọn đèn cao áp trên đầu, những hàng rào cắt tỉa khéo léo xanh, uốn éo một cách khéo léo. Chúng được tạo dáng như một mê cung. Người đàn ông nắm lấy tay tôi. Hai chúng tôi lạc giữa mê cung xanh ấy. Vòng quanh và không tìm được lối ra. Khi chân tê mỏi, tôi ngồi phịch xuống đất. Tôi nhìn thấy một đường mờ mờ màu trắng. Ai đó đã rải những hạt mè để dẫn đường cho lối quay trở về.
Khi chúng tôi quay trở ra. Tôi nhìn thấy cô gái cùng phòng đang ngồi trên một chiếc ghế đá màu xám. Cô ấy cầm trên tay cây sáo dài. Có lẽ cô ấy chỉ cầm theo vì tôi không hề nghe thấy tiếng sáo trong cả buổi tối.
Đêm đó tôi ngủ không ngon giấc. Vằn vện những đường gạch chéo của hạt mè trắng tràn ngập trong giấc ngủ của tôi. Những con kiến đang gặm nhấm hạt mè. Chúng mang theo hạt mè to đùng và nặng trĩu trên lưng. Chúng gặp nhau và cười sằng sặc. Tôi thấy cô gái đang gỡ từng hạt mè trên lưng chúng. Cô ấy nhai hạt mè sống. Và lũ kiến lại đi khênh những hạt mới về tổ. Nhưng chẳng bao giờ thành công.
Khi tỉnh giấc, mồ hôi đẫm ướt vạt áo sau lưng. Cô gái cùng phòng không ngồi thu lu trên ghế bành thút thít như đêm trước nữa. Tôi nhìn thấy cây sáo trên môi cô, vẫn cái vẻ say sưa như đang thổi, nhưng tôi không nghe gì hết.
Ngày thứ ba.
Buổi sáng bắt đầu bằng cơn mưa. Mưa như thế thì cuộc hành trình vẫn tiếp tục. Tôi muốn ngủ. Khi ở nhà, tôi vẫn cuộn mình trong chăn ấm khi trời đổ mưa. Hoàng sẽ mua phở hay xôi đến cho tôi. Hai đứa ngồi dưới mái hiên tầng thượng. Hoàng đọc thơ cho tôi nghe. Những bài thơ tôi không hiểu.
Mưa lớn. Cả đoàn đi tham quan đều mặc áo mưa. Xúng xính, lòe xòe. Người ta giương máy hình lên chụp mọi thứ, những phiến đá xanh cao ngất ngưỡng và đủ hình thù. Cô hướng dẫn viên liến thoắng thuyết minh. Qua làn áo mưa trong suốt, tôi nhìn thấy mặt trời trên áo cô. Nó giống mặt trời ngủ muộn sau những đám mây đen kịt trên đầu. Mưa làm mọi thứ ướt át.
Tôi không thấy cô gái cùng phòng trong chuyến đi. Nhưng tôi lại gặp cô ấy trên đỉnh tháp. Cô ấy đứng tựa vào lan can nhìn mông lung lên những tảng đá nhiều hình thù lô nhô trước mặt. Trên tay cô là một nắm hoa dại. Những bông hoa vàng nhỏ li ti như hạt nắng.
Cô ấy nắm lấy tay tôi và đặt vào đó một cành hoa dại màu vàng. Hoa ấm nóng nhưng tay cô ấy thì lạnh. Có lẽ vì trời mưa.
Cô ấy mang nắm hoa dại ấy về cắm trong phòng khi chúng tôi vào khách sạn.
…
Cô ấy mang găng tay, mặc áo len và đi ra ngoài.
Tôi cũng mang găng, mặc áo len và đi theo cô.
Tôi thấy cô bí ẩn và lạ lùng quá.
Sương đêm giăng mờ lối đi. Sương buốt làm ẩm ướt hai má tôi. Lối đi lạo xạo sỏi. Những viên sỏi tròn làm tôi lo lắng. Tôi sợ cô gái phát hiện ra tôi, sẽ quay lưng lại. Tôi sẽ thầm thì điều gì đó không rõ tiếng. Cô ấy giận dữ ném chiếc khăn đang quàng vào mặt tôi gào thét hãy cút đi. Thế cũng tốt. Tôi thích phiêu lưu một chút.
Cô ấy nằm ngửa mặt lên trời. Giữa một bãi cỏ rộng và xanh. Có một người đàn ông tiến đến cạnh cô. Lạ thật. Tôi không thấy bóng dáng ấy từ khi theo chân cô đến đây.
Người đàn ông mặc áo khoác trắng nhờ nhờ.
Tôi không nhìn rõ mặt nhưng dáng dấp có vẻ quen. Buồn cười. Tôi rất thích những người đàn ông vạm vỡ. Tôi thường tưởng tượng rồi tự hỏi khi họ ôm mình trong vòng tay săn chắc kia thì có ấm hơn vòng tay mềm và dịu dàng của Hoàng không.
Họ hôn nhau trên bãi cỏ. Từ xa tít tôi nhìn thấy những mảnh vụn của chiếc áo màu vàng kim tuyến lấp lánh của cô bay chập chờn trong không trung rồi rơi xuống. Có mảnh nào đó rơi xuống vai tôi. Khen khét. Tôi muốn hắt xì.
Cả nơi họ ngồi là một quầng sáng trắng xanh. Quầng sáng tỏa ra thứ âm khí lạnh lẽo. Lạnh và buốt hơn sương.
Cô gái cùng phòng quỳ trên cỏ. Cô đang bật quẹt một cách khó nhọc vì gió cứ phe phất. Tôi thấy ngạc nhiên khi người đàn ông cứ ngồi yên nhìn cô ấy loay hoay với mọi thứ. Cô ấy đốt một nắm nhang. Thứ nhang trầm rất thơm đang phảng phất vào gió. Cô ấy chia nhang thành từng nắm nhỏ và cắm trên bãi cỏ. Quanh chỗ người đàn ông ngồi.
Họ nắm tay nhau khe khẽ hát. Hình như là giai điệu của bài hát dân ca Trung Quốc. Trong suốt hành trình, tôi không hề nghe cô ấy nói một tiếng Trung Quốc nào. Nhưng bây giờ thì cô ấy đang hát. Tiếng hát trong và nhẹ như gió thoảng. Tôi nghe giọng hát ướt.
Gió tạt qua tai tôi. Lạnh tê vì mang theo sương. Tôi co người. Cái lạnh buốt vào ngực. Cô gái cùng phòng đứng xa tít đằng kia chỉ mặc chiếc áo sơ mi trắng mỏng. Có lẽ cô ấy lạnh gấp một ngàn lần tôi. Không còn tiếng hát nữa. Tôi nhìn phía trước, cũng chẳng thấy họ nữa. Chỉ có những đốm lửa nhỏ xíu như ma trơi chập chờn. Tôi quay lưng lại. Tôi sẽ về khách sạn.
Cô ấy đã đứng sau lưng tôi.
Đôi mắt mở to và hoảng hốt. Cô dang tay giáng vào má tôi một cái tát. Lạnh và tê buốt hơn sương. Mắt tôi nóng bỏng. Cô ấy bỏ chạy, bước chân lướt trên cỏ thoăn thoắt như bóng ma.
Tôi về phòng. Phòng bật đèn sáng ấm. Căn phòng gọn gàng chỉ có đồ đạc của tôi. Không có dấu vết nào của người khác cả. Tôi chạy xuống đại sảnh, hỏi nhân viên lễ tân bằng tiếng Việt. Cô gái lắc đầu, đáp lại sự cuống quít của tôi bằng tiếng Anh. Tôi không hiểu và cuống quít cực độ.
Cô gái hướng dẫn viên du lịch bước vào từ cửa. Mái tóc đẫm sương và phờ phạc.
- Chị hỏi gì thế?
- Tôi muốn hỏi cô gái cùng phòng với mình. Cô ấy đã bỏ đi.
- Không có ai ở cùng phòng với chị cả. Chị đã ở một mình trong suốt hành trình cơ mà. Chị đã ngủ mê đúng không? Giấc mơ có vẻ thú vị đấy.
Cô ấy cười. Nụ cười nhẹ bẫng và ma quái.
Tôi quay lên phòng. Căn phòng sáng rực khi cửa bật mở. Có một ly trà ai đó vừa pha đặt sẵn trước ti vi. Trà ấm nóng và bốc khói nghi ngút. Tôi bật khóc. Đêm đó tôi ngồi thu mình trong ghế bành. Sợ hãi. Tôi thấy nhớ mẹ khủng khiếp. Tôi muốn về nhà.
Ngày thứ tư.
Hành trình kết thúc. Mọi người trong đoàn có vẻ mệt mỏi. Hai người đàn ông trẻ trong đoàn chỉ còn có một. Anh ta vẫn nhìn tôi cười. Nụ cười dịu dàng thân thiện. Tôi muốn hỏi về người đàn ông vẫn đi bên cạnh anh ta. Về cái ghế trống anh ta đang đặt ba lô lên đó. Nhưng tôi không đủ can đảm.
Xe chạy. Tôi nhìn thấy cô gái cùng phòng đứng dưới sân. Cô mặc áo vàng, găng tay vàng, và quàng cổ cũng màu vàng kim tuyến. Cô ấy đứng bên cạnh người đàn ông tôi vẫn thấy. Người đàn ông đêm trước. Tôi giơ tay vẫy nhẹ.
Người bên cạnh quay lại nhìn tôi. Bằng ánh mắt lạ. Tôi thấy buốt lạnh, tôi kéo cổ áo lên cao thêm chút nữa. Tôi không nhìn thấy đường viền màu vàng trên áo mình nữa. Có lẽ nó đã rơi mất vào đêm qua.
BMT, tháng 6.2006
Niê Thanh Mai
Cô gái hướng dẫn viên đưa cho tôi chìa khóa, kèm theo một nụ cười thân thiện. Cô ấy mặc một chiếc áo xanh dương có in một chiếc mặt trời rực rỡ trên ngực. Tôi nghĩ nếu là đàn ông, tôi sẽ khuỵu ngã trước nụ cười ấy
Có vẻ rất bí hiểm. Tôi sẽ được ở một mình. Nhưng khi đến trước cửa phòng, đã có một cô gái chờ sẵn ở đó. Cô gái có nước da xanh tái và gầy như một cái cây. Vô tình đi ngang qua gương, tôi thử so sánh và giật mình nhận ra ngay lập tức là tôi gấp đôi cô ấy.
Mẹ không muốn tôi lang thang một mình.
Tôi lang thang. Không với ai cả. Tôi mang toàn bộ số tiền dành dụm được đăng ký chuyến lữ hành khi nhìn thấy Hoàng chở một cô gái đi ngang khu nhà trọ. Hoàng nhìn thấy tôi đang đứng chải tóc ở cửa phòng. Tôi không nhìn thấy Hoàng lần nào sau đó. Và cũng không biết vì sao Hoàng lại không nói là tạm biệt như mọi người yêu nhau vẫn nói khi họ chẳng còn gì dành cho nhau.
Côn Minh lạnh. Nhưng trong phòng hơi ngột ngạt, tôi mở cửa sổ, đi chân không. Nền lan can ẩm ướt. Phía dưới chân khách sạn là khu chợ nhỏ xíu có vẻ sầm uất.
Tôi lang thang giữa chợ. Người đông. Những chiếc bạt vuông vắn trải dưới đất bán đầy rẫy vòng tay dành cho con gái. Tôi thích một chiếc màu nâu. Nhưng tôi không biết nói tiếng Trung Quốc để hỏi giá. Tôi thấy cô gái cùng phòng đang đứng ở ven đường, tôi rủ cô ấy đi cùng. Tôi muốn mua một chiếc áo len. Tôi không biết Côn Minh lạnh như thế nên mang toàn những thứ quần áo ngắn cũn và hở vai. Cô gái chọn cho tôi chiếc áo màu vàng nhạt. Có đường viền ở cổ và thêu một con mèo trước ngực. Tôi không thích mèo. Nhưng chiếc áo có vẻ xinh. Tôi đồng ý mua với giá 50 tệ. Hình như cô ấy thích màu vàng. Tất cả mọi thứ của cô ấy mang trên người đều viền cái gì đó màu vàng.
Cô gái cùng phòng dắt tôi đi qua các con phố đông đúc. Có vẻ cô ấy rành về nơi này.
- Bạn nhìn thật kỹ mọi thứ nhé. Kiếp sau của con người không quay lại được nơi mình đã đi qua đâu.
Cô gái có vẻ thành khẩn. Tôi thấy cô ấy có vẻ kỳ lạ và tâm trạng. Tôi muốn đi tiếp nhưng cô ấy không đồng ý. Cô ấy dắt tôi quay trở lại khách sạn. Đồng hồ chỉ mười giờ tối. Chợ đã vãn.
Khi trở về phòng, cô ấy không nói với tôi tiếng nào. Cô ấy vặn đèn tối và lên giường ngủ trước tôi.
Đêm, tôi tỉnh giấc khi nghe có tiếng khóc thút thít. Mở mắt, tôi thấy cô ấy ngồi thu gọn trong chiếc ghế bành. Trông tội nghiệp như một con mèo.
Ngày thứ hai.
Tôi mang theo ba lô và lếch thếch ở cuối đoàn tham quan. Dốc núi cao làm tôi mệt rũ rượi. Cô gái cùng phòng có vẻ ngoài mảnh khảnh, da xanh tái phăm phăm đi trước. Khi cô gái hướng dẫn viên mặc áo màu đỏ có mặt trời rực rỡ trước ngực đang thuyết minh về việc ra đời của di tích thì cô ấy đã lên đến đỉnh núi.
Từ dưới đất, tôi nhìn thấy cô ấy quỳ xuống trước cột đá, vẻ mặt thành khẩn - vẻ mặt đêm trước khi cô đi với tôi ở chợ đêm. Khi mọi người lên gần đến nơi thì tôi gặp cô ấy đang bước xuống từng bậc. Bước chân chậm rãi và mệt mỏi. Cô ấy không nhìn tôi. Không ai hỏi vì sao cô ấy tách riêng đoàn như thế. Có lẽ cô ấy đang nhận được sự tôn trọng tự do đặc biệt.
Cô gái dựa vào vai tôi trên đường về. Tôi để cô ấy nằm yên như thế rất lâu. Tôi không làm gì ngoài việc nhìn ra cửa kính. Ở đó có những bông hoa hướng dương vàng rực cháy sáng cả cánh đồng thuốc lá xanh um. Tôi mỏi. Nhưng không nỡ đẩy ra. Hình như cô ấy ngủ. Tôi nhìn nghiêng và thấy môi cô hơi mím lại. Nhưng từ khóe mắt đang nhắm nghiền hai giọt nước chầm chậm lăn xuống má. Khi ngẩng lên, tôi bắt gặp cái nhìn của người đàn ông lạ. Người ấy nhìn chúng tôi bằng cái nhìn ái ngại. Có lẽ anh ta thích một cô gái yếu ớt.
Đêm. Cô mang giày, quàng khăn vào cổ. Cô mặc một chiếc áo màu nõn chuối và mang găng tay. Tôi thấy cô dừng lại trước gương. Cô ấy quệt lên môi một chút son. Có lẽ son làm cô ấy tự tin hơn.
Tôi không biết cô đi đâu. Khách sạn dừng lại tối nay không có chợ ở dưới đường. Từ trên cửa sổ, tôi nhìn xuống vườn, thấy mọi thứ yên ắng và tối lạ lùng.
Tự dưng tôi sợ hãi. Tôi mang giày, mặc áo len và mang găng tay. Tôi đóng cửa rồi đi xuống vườn. Tôi gặp người đàn ông ban chiều ở đại sảnh. Anh ta chào tôi bằng tiếng Trung Quốc: "Nỉ hảo". Tôi rủ anh ta đi dạo. Không ngần ngừ, anh ta đi theo tôi.
Có lẽ ban ngày khu vườn của khách sạn rất đẹp. Trong mờ mờ tối của thứ ánh sáng vàng của ngọn đèn cao áp trên đầu, những hàng rào cắt tỉa khéo léo xanh, uốn éo một cách khéo léo. Chúng được tạo dáng như một mê cung. Người đàn ông nắm lấy tay tôi. Hai chúng tôi lạc giữa mê cung xanh ấy. Vòng quanh và không tìm được lối ra. Khi chân tê mỏi, tôi ngồi phịch xuống đất. Tôi nhìn thấy một đường mờ mờ màu trắng. Ai đó đã rải những hạt mè để dẫn đường cho lối quay trở về.
Khi chúng tôi quay trở ra. Tôi nhìn thấy cô gái cùng phòng đang ngồi trên một chiếc ghế đá màu xám. Cô ấy cầm trên tay cây sáo dài. Có lẽ cô ấy chỉ cầm theo vì tôi không hề nghe thấy tiếng sáo trong cả buổi tối.
Đêm đó tôi ngủ không ngon giấc. Vằn vện những đường gạch chéo của hạt mè trắng tràn ngập trong giấc ngủ của tôi. Những con kiến đang gặm nhấm hạt mè. Chúng mang theo hạt mè to đùng và nặng trĩu trên lưng. Chúng gặp nhau và cười sằng sặc. Tôi thấy cô gái đang gỡ từng hạt mè trên lưng chúng. Cô ấy nhai hạt mè sống. Và lũ kiến lại đi khênh những hạt mới về tổ. Nhưng chẳng bao giờ thành công.
Khi tỉnh giấc, mồ hôi đẫm ướt vạt áo sau lưng. Cô gái cùng phòng không ngồi thu lu trên ghế bành thút thít như đêm trước nữa. Tôi nhìn thấy cây sáo trên môi cô, vẫn cái vẻ say sưa như đang thổi, nhưng tôi không nghe gì hết.
Ngày thứ ba.
Buổi sáng bắt đầu bằng cơn mưa. Mưa như thế thì cuộc hành trình vẫn tiếp tục. Tôi muốn ngủ. Khi ở nhà, tôi vẫn cuộn mình trong chăn ấm khi trời đổ mưa. Hoàng sẽ mua phở hay xôi đến cho tôi. Hai đứa ngồi dưới mái hiên tầng thượng. Hoàng đọc thơ cho tôi nghe. Những bài thơ tôi không hiểu.
Mưa lớn. Cả đoàn đi tham quan đều mặc áo mưa. Xúng xính, lòe xòe. Người ta giương máy hình lên chụp mọi thứ, những phiến đá xanh cao ngất ngưỡng và đủ hình thù. Cô hướng dẫn viên liến thoắng thuyết minh. Qua làn áo mưa trong suốt, tôi nhìn thấy mặt trời trên áo cô. Nó giống mặt trời ngủ muộn sau những đám mây đen kịt trên đầu. Mưa làm mọi thứ ướt át.
Tôi không thấy cô gái cùng phòng trong chuyến đi. Nhưng tôi lại gặp cô ấy trên đỉnh tháp. Cô ấy đứng tựa vào lan can nhìn mông lung lên những tảng đá nhiều hình thù lô nhô trước mặt. Trên tay cô là một nắm hoa dại. Những bông hoa vàng nhỏ li ti như hạt nắng.
Cô ấy nắm lấy tay tôi và đặt vào đó một cành hoa dại màu vàng. Hoa ấm nóng nhưng tay cô ấy thì lạnh. Có lẽ vì trời mưa.
Cô ấy mang nắm hoa dại ấy về cắm trong phòng khi chúng tôi vào khách sạn.
…
Cô ấy mang găng tay, mặc áo len và đi ra ngoài.
Tôi cũng mang găng, mặc áo len và đi theo cô.
Tôi thấy cô bí ẩn và lạ lùng quá.
Sương đêm giăng mờ lối đi. Sương buốt làm ẩm ướt hai má tôi. Lối đi lạo xạo sỏi. Những viên sỏi tròn làm tôi lo lắng. Tôi sợ cô gái phát hiện ra tôi, sẽ quay lưng lại. Tôi sẽ thầm thì điều gì đó không rõ tiếng. Cô ấy giận dữ ném chiếc khăn đang quàng vào mặt tôi gào thét hãy cút đi. Thế cũng tốt. Tôi thích phiêu lưu một chút.
Cô ấy nằm ngửa mặt lên trời. Giữa một bãi cỏ rộng và xanh. Có một người đàn ông tiến đến cạnh cô. Lạ thật. Tôi không thấy bóng dáng ấy từ khi theo chân cô đến đây.
Người đàn ông mặc áo khoác trắng nhờ nhờ.
Tôi không nhìn rõ mặt nhưng dáng dấp có vẻ quen. Buồn cười. Tôi rất thích những người đàn ông vạm vỡ. Tôi thường tưởng tượng rồi tự hỏi khi họ ôm mình trong vòng tay săn chắc kia thì có ấm hơn vòng tay mềm và dịu dàng của Hoàng không.
Họ hôn nhau trên bãi cỏ. Từ xa tít tôi nhìn thấy những mảnh vụn của chiếc áo màu vàng kim tuyến lấp lánh của cô bay chập chờn trong không trung rồi rơi xuống. Có mảnh nào đó rơi xuống vai tôi. Khen khét. Tôi muốn hắt xì.
Cả nơi họ ngồi là một quầng sáng trắng xanh. Quầng sáng tỏa ra thứ âm khí lạnh lẽo. Lạnh và buốt hơn sương.
Cô gái cùng phòng quỳ trên cỏ. Cô đang bật quẹt một cách khó nhọc vì gió cứ phe phất. Tôi thấy ngạc nhiên khi người đàn ông cứ ngồi yên nhìn cô ấy loay hoay với mọi thứ. Cô ấy đốt một nắm nhang. Thứ nhang trầm rất thơm đang phảng phất vào gió. Cô ấy chia nhang thành từng nắm nhỏ và cắm trên bãi cỏ. Quanh chỗ người đàn ông ngồi.
Họ nắm tay nhau khe khẽ hát. Hình như là giai điệu của bài hát dân ca Trung Quốc. Trong suốt hành trình, tôi không hề nghe cô ấy nói một tiếng Trung Quốc nào. Nhưng bây giờ thì cô ấy đang hát. Tiếng hát trong và nhẹ như gió thoảng. Tôi nghe giọng hát ướt.
Gió tạt qua tai tôi. Lạnh tê vì mang theo sương. Tôi co người. Cái lạnh buốt vào ngực. Cô gái cùng phòng đứng xa tít đằng kia chỉ mặc chiếc áo sơ mi trắng mỏng. Có lẽ cô ấy lạnh gấp một ngàn lần tôi. Không còn tiếng hát nữa. Tôi nhìn phía trước, cũng chẳng thấy họ nữa. Chỉ có những đốm lửa nhỏ xíu như ma trơi chập chờn. Tôi quay lưng lại. Tôi sẽ về khách sạn.
Cô ấy đã đứng sau lưng tôi.
Đôi mắt mở to và hoảng hốt. Cô dang tay giáng vào má tôi một cái tát. Lạnh và tê buốt hơn sương. Mắt tôi nóng bỏng. Cô ấy bỏ chạy, bước chân lướt trên cỏ thoăn thoắt như bóng ma.
Tôi về phòng. Phòng bật đèn sáng ấm. Căn phòng gọn gàng chỉ có đồ đạc của tôi. Không có dấu vết nào của người khác cả. Tôi chạy xuống đại sảnh, hỏi nhân viên lễ tân bằng tiếng Việt. Cô gái lắc đầu, đáp lại sự cuống quít của tôi bằng tiếng Anh. Tôi không hiểu và cuống quít cực độ.
Cô gái hướng dẫn viên du lịch bước vào từ cửa. Mái tóc đẫm sương và phờ phạc.
- Chị hỏi gì thế?
- Tôi muốn hỏi cô gái cùng phòng với mình. Cô ấy đã bỏ đi.
- Không có ai ở cùng phòng với chị cả. Chị đã ở một mình trong suốt hành trình cơ mà. Chị đã ngủ mê đúng không? Giấc mơ có vẻ thú vị đấy.
Cô ấy cười. Nụ cười nhẹ bẫng và ma quái.
Tôi quay lên phòng. Căn phòng sáng rực khi cửa bật mở. Có một ly trà ai đó vừa pha đặt sẵn trước ti vi. Trà ấm nóng và bốc khói nghi ngút. Tôi bật khóc. Đêm đó tôi ngồi thu mình trong ghế bành. Sợ hãi. Tôi thấy nhớ mẹ khủng khiếp. Tôi muốn về nhà.
Ngày thứ tư.
Hành trình kết thúc. Mọi người trong đoàn có vẻ mệt mỏi. Hai người đàn ông trẻ trong đoàn chỉ còn có một. Anh ta vẫn nhìn tôi cười. Nụ cười dịu dàng thân thiện. Tôi muốn hỏi về người đàn ông vẫn đi bên cạnh anh ta. Về cái ghế trống anh ta đang đặt ba lô lên đó. Nhưng tôi không đủ can đảm.
Xe chạy. Tôi nhìn thấy cô gái cùng phòng đứng dưới sân. Cô mặc áo vàng, găng tay vàng, và quàng cổ cũng màu vàng kim tuyến. Cô ấy đứng bên cạnh người đàn ông tôi vẫn thấy. Người đàn ông đêm trước. Tôi giơ tay vẫy nhẹ.
Người bên cạnh quay lại nhìn tôi. Bằng ánh mắt lạ. Tôi thấy buốt lạnh, tôi kéo cổ áo lên cao thêm chút nữa. Tôi không nhìn thấy đường viền màu vàng trên áo mình nữa. Có lẽ nó đã rơi mất vào đêm qua.
BMT, tháng 6.2006
Niê Thanh Mai
Thứ Tư, tháng 3 04, 2009 | Nhãn: Truyện Hay - Sưu Tầm | 1 Comments
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)
Giới thiệu về tôi
- Ỉn Dễ Thương
- Vietnam
- không ai là hoàn hảo nên mình cũng không phải là người hoàn hảo..
my pic